07:17 ICT Thứ ba, 15/10/2019
“Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!” "Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng"

Trang chủ » Tổ chức » Kiểm sát viên

Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm khi bản án bị hủy có lỗi của Kiểm sát viên

Thứ tư - 02/03/2016 14:09

Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định; Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Thế nhưng, trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, có trường hợp Kiểm sát viên được phân công kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hoặc có trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên toà nhưng không thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật nên không kịp thời phát hiện vi phạm của Toà án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để thực hiện quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, kháng nghị đối với bản án, quyết định của Toà án cùng cấp nên dẫn đến bản án, quyết định của cấp dưới bị Toà án cấp trên huỷ án để giao hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại. Trong đó, nguyên nhân huỷ án lại có lỗi của Kiểm sát viên. Qua bài viết này cần nghiên cứu một trường hợp án huỷ có lỗi của Kiểm sát viên để kịp thời rút kinh nghiệm chung trong công tác kiểm sát giải quyết án dân sự:

Nội dung vụ án: Bà Nông Thị Y và ông Toàn Văn A tranh chấp với nhau diện tích 635,1 m2 đất tại khối 5, thị trấn D, huyện D, tỉnh C. Phía bà Y cho rằng ông A đã chuyển nhượng cho bà phần diện tích nêu trên, bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện ông A và các con ông A lại làm nhà trên đất nên bà khởi kiện yêu cầu ông A và các con phải tháo dỡ nhà trả lại đất cho bà. Phía ông A cho rằng toàn bộ phần đất tranh chấp là của vợ chồng ông, ông không chuyển nhượng mà chỉ cho bà Y thuê đất, việc ký hợp đồng chuyển nhượng với bà Y là do bị bà Y lừa nên ông không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của bà Y.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2013/DS-ST ngày 10/10/2013 Toà án nhân dân huyện D đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y, công nhận quyền sử dụng đất của bà Y đối với toàn bộ phần đất tranh chấp. Buộc ông A và các con phải tháo dỡ, di dời tài sản xây dựng trái phép trên đất để trả lại đất cho bà Y.

Sau khi xét xử sơ thẩm ông Toàn Văn A có đơn kháng cáo.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 18/2014/DS- PT ngày 08/5/2014 của Toà án nhân dân tỉnh C xử không chấp nhận kháng cáo của ông A, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

Ngày 17/11/2014, ông Toàn Văn A có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

Sau khi xem xét đơn đề nghị và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thấy: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của vợ chồng ông Toàn Văn A và bà Hoàng Thị B. Ngày 22/6/2000, vợ chồng ông A, bà B có lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ phần đất cho bà Nông Thị Y, hợp đồng có chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bà Y đã hoàn thành các thủ tục sang tên, chuyển nhượng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/8/2001. Ông A cho rằng ông không chuyển nhượng cho bà Y mà chỉ cho bà Y thuê đất, việc ông ký vào hợp đồng chuyển nhượng là do bị bà Y lừa nhưng ông không có căn cứ chứng minh, hiện bà Y vẫn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, việc Toà án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho bà Y là phù hợp.

Thế nhưng, trên thực tế, sau khi bà Y được cấp quyền sử dụng đất thì ngày 03/3/2002 giữa gia đình bà Y và gia đình ông A đã lập “Giấy thoả thuận đổi đất” có nội dung: “Trong lô đất 635 m2 bà Y đã được cấp giấy chứng nhận, nguồn gốc do mua bán với gia đình ông A, trong đó có 315,7 m2 đất là của gia đình bà Nông Thị Y. Nay thoả thuận đổi lấy phần đất từ vỉa hè Quốc lộ 1 A rộng 5 mét thẳng sâu vào hết phần đất của ông A có diện tích 238,76m2 (có tứ cận…)”. Việc đổi đất là do tự nguyện thoả thuận giữa gia đình bà Y với gia đình ông A, ông A đã nhận đất và phân chia cho các con, các con ông A đã làm nhà trên đất. Đồng thời, bà Y cũng đã nhận phần diện tích đất của gia đình ông A đổi và đã xây dựng công trình trên phần đất đó. Như vậy, việc đổi đất đã được thực hiện, hai bên đã sử dụng phần đất đổi cho nhau để xây dựng nhà và không có ý kiến phản đối gì. Toà án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc ông A và các con ông A phải tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên đất để trả lại đất cho bà Y mà không xem xét đến việc đổi đất giữa hai bên là xem xét không hết các tình tiết khách quan có trong hồ sơ vụ án, gây thiệt hại đến quyền lợi của ông Toàn Văn A.

Ngày 14/02/2015, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm số 33/2015/KN-DS đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 18/2014/DS- PT ngày 08/5/2014 của Toà án nhân dân tỉnh C. Toà án nhân dân tối cao đã xét xử giám đốc thẩm ngày 29/5/2015 chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, huỷ Bản án dân sự phúc thẩm số 18/2014/DS- PT ngày 08/5/2014 của Toà án nhân dân tỉnh C và Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2013/DS- ST ngày 10/10/2013 của Toà án nhân dân huyện D, giao hồ sơ cho Toà án nhân dân huyện D, tỉnh C xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Qua nghiên cứu toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, cho thấy những thiếu sót, vi phạm của Bản án dân sự phúc thẩm đã gây thiệt hại trực tiếp đến quyền lợi của các đương sự tham gia vụ kiện. Điều đáng chú ý cần rút kinh nghiệm trong vụ án này là vụ án đã qua 2 lần xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm nhưng vẫn có sai sót dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài, không triệt để. Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên toà cũng cho rằng việc ông A và các con phải tháo dỡ, di dời tài sản mà không được bồi thường là có căn cứ. Điều đó thể hiện quá trình nghiên cứu hồ sơ, Kiểm sát viên chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án; chưa đánh giá chính xác, khách quan chứng cứ và các tình tiết liên quan. Sau phiên toà phúc thẩm cũng không phát hiện được vi phạm của bản án để thực hiện việc báo cáo đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Do vậy, từ các tình tiết của vụ án này là bài học kinh nghiệm để mỗi Kiểm sát viên nghiên cứu, kịp thời rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao hơn nữa kỹ năng và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc nghiên cứu hồ sơ, kịp thời nhận diện những vi phạm của Toà án, đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật nhằm bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ thống nhất, nhằm giải quyết vụ án được đúng đắn, đem lại niềm tin cho nhân dân.

Thanh Nghị

Nguồn tin: http://www.tapchikiemsat.org.vn/

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn