12:38 ICT Thứ ba, 14/07/2020
“Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 60 năm thành lập ngành Kiểm sát nhân dân (26/7/1960 - 26/7/2020)" "Nhiệt liệt chào mừng 128 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2018)!"

Trang chủ » Tổ chức » Tin tức » Tin từ Viện kiểm sát Quảng Trị

Các bài phát biểu tham luận tại Hội Nghị triển khai công tác năm 2016 của VKSND tỉnh Quảng Trị

Thứ tư - 13/01/2016 14:23

VKSND TỈNH QUẢNG TRI

PHÒNGTHQCT KSXXPTHS (P7)

THAM LUẬN

Những kết quả bước đầu thông qua cuộc thi “Kỹ năng tranh luận, đối đáp và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự“kiểm tra lập hồ sơ kiểm sát án hình sự”.

          Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 02/01/2015 của VT VKSND tối cao về công tác năm 2015 đã xác định: "Tiếp tục nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, trọng tâm là nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa... coi đây là giải pháp tự đào tạo qua thực tiển nhằm nâng cao kiến thức,kinh nghiệm,tinh thần trách nhiệm, kỹ năng tranh tụng cho Kiểm sát viên..." và Chỉ thị số 06của VKSTC yêu cầu “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”. Trên cơ sở đó VKSND tỉnh Quảng Trị đã ban hành kế hoạch công tác số 54 năm 2015 xác định: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, kiểm sát chặt chẽ hoạt động điều tra, chốngoan, sai, bỏ lọt tội phạm; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, tăng cường kháng nghị hình sự. Bám sát kế hoạch của ngành, của đơn vị, năm qua Phòng 7 đã tham mưu triển khai đạt được nhiều kết quả trong công tác, tại Hội nghị này chúng tôi xin tham luận 2 vấn đề để làm rõ thành tích khâu đột phá trong năm 2015.

 1. Những kết quả bước đầu thông qua cuộc thi “Kỹ năng tranh luận, đối đáp và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự

          Căn cứ Kế hoạch số 28/KH-P3 ngày 13/5/2015 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị về việc tổ chức cuộc thi “Kỹ năng tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự”; Phòng 7 đã tham mưu và phối hợp tổ chức thành công cuộc thi với việc xây dựng một kịch bản cuộc thi khoa học, vừa nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho người thi nhưng lại vừa có tác dụng khuyến khích mọi cán bộ làm chuyên môn nghiệp vụ đặc biệt là công tác THQCT và KSXX các vụ án hình sự phải thường xuyên học tập nghiên cứu văn bản, cập nhật kiến thức mới đáp ứng được yêu cầu nâng cao kỹ năngtranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự và việc định tội danh đối với từng vụ án. Cơ cấucủa đề thi mang tính hệ thống lại kiến thức về lý luận định tội danh, hệ thống văn bản về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự và yêu cầu về kỹ năng tranh luận đối đáp theo những tình huống giả định như thật để từ đó nâng cao kỹ năng tranh luận, đối đáp và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự, đây thực sự là một quá trình tự đào tạo thông qua thực tiễn rất phong phú. Cuộc thi không chỉ dành riêng cho các thí sinh dự thi mà là cuộc thi dành cho tất cả Kiểm sát viên, kiểm tra viên, chuyên viên trong toàn ngành Kiểm sát Quảng Trị. Đây là dịp để các KSV hệ thống lại kiến thức và văn bản pháp luật, đồng thời bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng tranh tụng cho các KSV còn trẻ và cũng là dịp ôn lại kiến thức cho những KSV kỳ cựu và là hình mẫu cho những cán bộ mới được tuyển dụng vào Ngành và đặc biệt là nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp nhằm góp phần xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên: “Vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”.

       Mặc dù đề thi khá đa dạng, có nhiều tình huống tương đối khó, thời lượng dành cho việc chuẩn bị để trả lời không nhiều nhưng hầu hết KSV tham gia các đội thi đều nắm vững các quy định của pháp luật, có sự nhanh nhạy trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn nên việc trả lời câu hỏi, xử lý tình huống đã đạt được yêu cầu đề ra, có một số đơn vị trả lời khá tốt, được Ban giám khảo và hội thi đánh giá cao. Tuy nhiên thông qua cuộc thi, thấy rằng vẫn còn những mặt hạn chế như: Một số KSV chưa nắm chắc nội dung các văn bản hướng dẫn nên còn lúng túng, thiếu quyết đoán trong việc phân tích, lựa chọn và đưa ra câu trả lời, việc định tội danh chưa chính xác, xử lý tình huống còn chậm hoặc chưa phù hợp với quy định của pháp luật ...

            Với nội dung yêu cầu cuộc thi, cơ cấu đề thi, cuộc thi đã tổ chức thành công như trên bước đầu đầu đem lại hiệu quả thiết thực là một giải pháp hữu hiệu nhằm:“Nâng cao kỹ năng tranh luận, đối đáp và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự và việc định tội danh” cho tất cả Kiểm sát viên, kiểm tra viên, chuyên viên trong toàn ngành kiểm sát Quảng Trị được thể hiện sinh động qua các phiên tòa thực tế sau cuộc thi đặc biệt là các phiên tòa rút kinh nghiêm đạt chất lượng rất cao. Qua cuộc thi đã hệ thống lại hệ thông văn bản pháp luật nên tại phiên tòa , KSV thực hành quyền công tố đã chuẩn bị tốt đề cương xét hỏi, chuẩn bị dự kiến kế hoạch tranh luận và đặc biệt là tranh luận đối đáp của KSV đã chủ độngtoàn diện và triệt để hơn, và chính thành công bước đầu này là một giải pháp chống oan sai hiệu quả và là một nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức triển khai thực hiện Luật tổ chức VKSND năm 2014 và thực hiện tốt chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị.

2. Những kết quả bước đầu thông qua việc “kiểm tra lập hồ sơ kiểm sát án hình sự”.

           Nhằm tăngcường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Viện kiểm sát hai cấp; nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra - kiểm sát xét xử hình sự,  tháng 8/2015 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã triển khai: “Kiểm tra chuyên đề nghiệp vụ công tác kiểm sát án hình sự” về lập hồ sơ kiểm sát án hình sự theo Quy định về lập Hồ sơ kiểm sát án hình sựban hành kèm theo Quyết định số 590/QĐ-VKSTC-V3 ngày 05/12/2014 của Viện trưởng VKSND tối cao (sau đây gọi là Quyếtđịnh 590). Trong đó chú trọng kiểm tra xem xét, đánh giá kỹ năng của Kiểm sát viên trong việc lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu, nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, đánh giá tài liệu, chứng cứ, đề ra yêu cầu điều tra, báo cáo án, luận tội, đề cương xét hỏi, dự kiến kế hoạch tranh luận đối đáp của Kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng và hoạt động kiểm sát xét xử của Kiểm sát viên.

          Qua kiểm tra hầu hết các đơn vị đều quán triệt thực hiện Quy định về lập Hồ sơ kiểm sát án hình sự theo Quyếtđịnh 590, một số đơn vị đã triển khai làm được một số bước lập hồ sơ kiểm sát như: Hồ sơ lập có đủ các tài liệu phản ánh hoàn chỉnh về vụ án và các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm,có đánh số bút lục, bản thống kê tài liệu chi tiết, có báo cáo đề xuất xử lý trong các giai đoạn tố tụng, phiếu yêu cầu điều tra, tiến hành phúc cung, lời khai sau khi kết thúc điều tra,có lập bản nghiên cứu tổng hợp chứng cứ của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, trích cứu hồ sơ, có báo cáo đề nghị truy tố, báo cáo án, có lập đề cương xét hỏi, dự kiến kế hoạch tranh luận tại phiên toà; có lập phiếu kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án, một sốđơn vị đã tiến hành kiểm tra biên bản phiên toà.

          Tuy nhiên, các đơn vị đều lập hồ sơ Kiểm sát án hình sự chưa đúng quy định tại các Điều 4, 5 và 9 của Quyết định 590, kỹ năng của Kiểm sát viên trong việc lập hồ sơ kiểm sát, trích cứu, nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, đánh giá tài liệu, chứng cứ, đề ra yêu cầu điều tra, báo cáo án, luận tội, đề cương xét hỏi, dự kiến kế hoạch tranh luận đối đáp của Kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng và hoạt động kiểm sát xét xử của Kiểm sát viên còn nhiều bất cập hạn chế.

            Để phát huy những việc đã làm được, rút kinh nghiệm về những hạn chế, tồn tại. Sau khi kết thúc kiểm tra đã ban hành kết luận kiểm tra đối với từng đơn vị và ban hành 1 thông báo rút kinh nghiệm chung trong toàn tỉnh để các đơn vị tự đối chiếu lại kết quả hoạt động công tác của đơn vị mình nhằm khắc phục hạn chế thiếu sót. Đồng thời Phòng đã tham mưu biên soạn hướng dẫn chi tiết lập hồ sơ,nghiên cứu soạn thảohệ thống biểu mẫu kèm theo để thực hiện tốt công tác lập hồ sơ theo quyết định 590 và tổ chức tập huấn trong toàn ngành.Đây là một cách làm sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng lập hồ sơ án hình sựtheo đúng QĐ 590.

           Sau gần 4tháng thực hiện kết luận kiểm tra, thông báo rút kinh nghiệm và tổ chức tập huấn cho thấy hầu hết các đơn vị đã tổ chức thực hiện tốt công tác lập hồ sơ án hình sự, đặc biệt sau khi sau khi Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, KSV- KSĐT đã lên Bản kế hoạch thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên; Bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên gửi Điều tra viên trên cơ sở triển khai các nội dung tại bản Kế hoạch thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra; việc xây dựng hồ sơ khoa học và chặt chẽ dễ nghiên cứu, tra cứu như: Bản trích lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng (đính kèm bản photo những lời khai quan trọng là chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội); Bản nghiên cứu tổng hợp chứng cứ của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Bản báo cáo giải quyết án ở giai đoạn truy tố; Tập nhật ký kiểm sát điều tra vụ án;Bản báo cáo giải quyết án ở giai đoạn xét xử sơ thẩm; Bản đề cương xét hỏi; Bản dự kiến nội dung tranh luận tại phiên tòa; Bản dự thảo luận tội; Bút ký phiên tòa, ngoài ra có đơn vị còn tổ chức họp đơn vị đề ra biện pháp, giải pháp khắc phục những hạn chế thiếu sót, kể cả vấn đề sắp xếp bố trí cán bộ nhằm thực hiện tốt công tác lập hố sơ… Nên chất lượng giải quyết án trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong thời gian qua được nâng lên, thực hiện được yêu cầu tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đảm bảo việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt người phạm tội, không làm oan người vô tộivàđược thể hiện sinh động qua kết quả công tác của ngành KS Quảng Trịtrong năm 2015 việctrả hồ sơ để điều tra bổ sung tỷ lệ rất thấp,không có vụ nào VKS truy tố mà tòa tuyên không phạm tội hoặc CQĐT, VKS phải đình chỉ điều tra vì bị can không có hành vi phạm tội, chất lượng tranh luận của KSV tại phiên tòa đượcnâng lên, các vấn đề cần tranh luận đã được KSVđáp ứng đầy đủ, toàn diện và kịp thời tất cả các tình huống của từng phiên tòa cụ thể. Những kết quả đạt được nêu trên đã góp phần vào thành tích chung của đơn vị. Năm 2015 VKSND tỉnh Quảng Trị được VKND tối cao tặng cờ thi đua đơn vị xuất sắc.

          3. Kiến nghị

          Nhằm triển khai thi hành đúng Luật tổ chức VKSND năm 2014, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Chỉ thị 06, 04 của Viện trưởng VKSND tối cao về “Tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra; Tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai” và đặc biệt là thực hiện tốt Chỉ thị công tác năm 2016 của ngành và kế hoạch công tác của VKSND tỉnh năm 2016, chúng tôi xin kiến nghị đề xuất:

          - Tiến hành kiểm tra đánh giá một năm thực hiện hệ thống biểu mẫu ban hành kèm theo Quyết định 1308 của Viện trưởng VKSND tỉnh Quảng Trị về việc lập hồ sơ theo Quyết định 59 để rút kinh nghiệm, phát huy những mặt mạnh đồng thời sữa đổi bổ sung những bất cập, hạn chế nhằm nâng cao chất lượng lập hồ sơ án hình sự trong toàn ngành.

           - Trong năm 2016 cần chỉ đạo các phòng trong khối hình sự phối hợp tổ chức cuộc thi với phạm vi công tác rộng hơn, đó là: “Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự” để tạo ra một sân chơi bổ ích cho cán bộ, kiểm sát viên trong toàn ngành, thông qua cuộc thinhằm đáp ứng yêu cầu không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, gắn lý luận với thực tiển, tạo động lực thi đua hoàn thành tốt kế hoạch công tác năm 2016 với chất lượng và hiệu quả cao nhất.

          Trên đây là tham luận của Phòng 7. Nội dung tham luận chắc chắn có những vấn đề chưa toàn diện, chưa đầy đủ, kính mong Hội nghị quan tâm tham gia đóng góp thêm ý kiến.

 

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

                                                        TỈNH QUẢNG TRỊ                                            

                      PHÒNG KS GIẢI QUYẾT ÁN HC, KDTM, LĐ, PS (P10)

THAM LUẬN

Kỹ năng phát hiện vi phạm của Tòa án trong hoạt động

tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để nâng cao chất lượng

 kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm

 
            Thực hiện kế hoạch số 1405/KH-VKS ngày 21/12/2015 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị về việc tổ chứcHội nghị triển khai công tác Kiểm sát năm 2016, Phòng kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (gọi tắt là Phòng 10) phát biểu Tham luận về kỹ năng phát hiện vi phạm của Tòa án trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để nâng cao chất lượng kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm.

Nâng cao chất lượng kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án, quyết định dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (gọi chung là dân sự), hành chính sơ thẩm là nhằm  khắc phục tình trạng khiếu kiện ở nhiều cấp, nhiều nơi, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính theo tinh thần mới của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, Luật tố tụng hành chính và đáp ứng yêu cầu cải cải tư pháp. Đồng thời cũng nhằm thực hiện tốt Chỉ thị số 04/CT-VKSTC-PT1 ngày 17/5/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính.

I.Thực trạng công tác kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính

          Năm 2015, thông qua kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát hai cấp đã phát hiện nhiều vi phạm của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính đã ban hành 4 kiến nghị ( cấp huyện 2, cấp tỉnh 2) và 4 kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (cấp tỉnh 2, cấp huyện 2), góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ, việc dân sự, vụ án hành chính. So với năm 2014 giảm về số liệu (giảm 11 kiến nghị, 6 kháng nghị) nhưng về chất lượng thì được nâng lên.

          Các kiến nghị của Viện kiểm sát đối với Tòa án tập trung ở những dạng vi phạm chủ yếu là: Gửi bản án, quyết định chậm, không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án, không chuyển hồ sơ theo yêu cầu của Viện kiểm sát, áp dụng pháp luật không chính xác. Sau khi Viện kiểm sát ban hành kiến nghị Tòa án đã chấp nhận, tiếp thu và có biện pháp khắc phục sửa chữa.

          Các kháng nghị của Viện kiểm sát cơ bản đảm bảo về nội dung, hình thức và có căn cứ pháp lý nên được Tòa án cấp phúc chấp nhận. Công tác kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính còn bộc lộ một số hạn chế như: Chất lượng một số bản kháng nghị chưa cao, phân tích, lập luận thiếu chặt chẽ, không nêu đầy đủ những vi phạm của bản án sơ thẩm, chưa đánh giá đúng về tính chất, mức độ vi phạm ( VKS tỉnh rút kháng nghị 01 vụ); một số Viện kiểm sát cấp huyện có án bị sửa nhưng không ban hành được văn bản kháng nghị nào. Công tác kháng nghị phúc thẩm năm 2015 có những thuận lợi và khó khăn như sau:

1.Những thuận lợi:

          -Bộ luật Tố tụng dân sự đã được bổ sung sửa đổi năm 2011 đã mở rộng hơn thẩm quyền tham gia xét xử các vụ án dân sự của Viện kiểm sát nhân dân, do đó số lượng vụ việc Viện kiểm sát tham gia phiên tòa ngày càng nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho Kiểm sát viên được trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án, qua đó phát hiện nhiều hơn vi phạm của Tòa án.

          -Thực hiện Thông tư liên tịch số 03, 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật tố tụng hành chính, Bộ luật tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính, dân sự (sau đây gọi là Thông tư 03, 04), Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp đã phát huy được tốt hơn vai trò, vị trí của Viện kiểm sát, tích cực, chủ động tham gia hỏi để làm rõ hơn nội dung vụ kiện, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác kháng nghị phúc thẩm khi quan điểm giải quyết vụ án giữa hai ngành không thống nhất.

          -Năm 2015, lãnh đạo Viện kiểm sát đã quan tâm, chú trọng, từng bước kiện toàn, sắp xếp, bố trí hợp lý và bồi dưỡng công chức, Kiểm sát viên đối với khâu công tác nghiệp vụ này. Lãnh đạo đơn vị thường xuyên quan tâm, nhắc nhở, lắng nghe, chia sẻ kinh nghiệm và tạo điều kiện để Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

          -Kiểm sát viên, Kiểm tra viên luôn có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề, không ngừng học tập, trau dồi kiến thức pháp luật nhất là những văn bản luật, thông tư mới ban hành hướng dẫn thực hiện Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, Luật tố tụng hành chính.

2.Những khó khăn, vướng mắc:

          -Mặc dù Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi mở rộng hơn về các trường hợp tham gia phiên toà của Viện kiểm sát, tuy nhiên Kiểm sát viên vẫn gặp nhiều khó khăn trong nghiên cứu hồ sơ, cụ thể: Theo quy định của Bộ luật tố Tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính và Thông tư 03, 04 thì thời gian nghiên cứu hồ sơ để tham gia xét xử của Viện kiểm sát là 15 ngày. Thế nhưng khi Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu thường đưa ra nhiều lý do để đề nghị Viện kiểm sát phối hợp nghiên cứu hồ sơ nhanh, trả hồ sơ sớm để Tòa án xét xử vụ án cho kịp thời hạn. Do đó thời gian Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ ngắn, khó phát hiện đầy đủ các vi phạm của Thẩm phán.

          -Theo quy định tại Thông tư 03, 04 thì Tòa án phải chuyển hồ sơ ngay cho Viện kiểm sát kể từ khi nhận được Yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án để nghiên cứu kháng nghị phúc thẩm. Tuy nhiên, Tòa án thường đưa ra nhiều lý do để trì hoãn việc chuyển hồ sơ, gây khó khăn cho công tác kháng nghị phúc thẩm.

          -Nhận thức về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát và quyền tự định đoạt của đương sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự không đầy đủ nên đôi lúc Kiểm sát viên còn có tư tưởng buông xuôi, không kháng nghị.

          -Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện chưa thực hiện nghiêm túc việc chuyển bản án, quyết định của Tòa án cho Viện kiểm sát tỉnh nên nhiều trường hợp Viện kiểm sát tỉnh nhận được bản án, quyết định thì đã quá thời hạn kháng nghị phúc thẩm.

          - Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện còn ngại va chạm với Tòa án cấp huyện nên ít ban hành các bản kiến nghị.

II. Kỹ năng phát hiện vi phạm của Tòa án

          Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm dân sự, hành chính, ngoài việc nắm vững các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đã sửa đổi, Luật tố tụng hành chính và các văn bản pháp luật liên quan, nhất là các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; thực hiện nghiêm túc các nội dung của Chỉ thị số 04 thì Kiểm sát viên, công chức cần thực hiện một số kỷ năng sau:

1.Kỹ năng kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án:

          Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chuyên viên khi kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, ngoài việc kiểm tra về thời hạn gửi cho Viện kiểm sát, hình thức của bản án, quyết định còn phải chú ý:

          - Đối với các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án thì phải kiểm tra xem căn cứ đình chỉ, tạm đình chỉ nêu trong quyết định có được quy định trong Điều 189, 192 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 118, 120 Luật tố tụng hành chính không. Đối với những trường hợp nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện thì phải kiểm tra Thông báo thụ lý vụ án xem có yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không để xác định việc đình chỉ giải quyết vụ án có làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không.

          - Đối với bản án: Cần đọc kỹ bản án để xác định yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập trong vụ án. Đối chiếu với quyết định của bản án xem Tòa án đã giải quyết đầy đủ hay vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự. Kiểm tra về điều kiện và thời hạn khởi kiện, việc xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án, nhất là đối với những vụ án có liên quan đến sở hữu chung về tài sản thì phải chú ý xem Tòa án đã đưa đầy đủ những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án chưa. Phần nhận định của bản án có phân tích, đánh giá chứng cứ một cách khách quan không, việc áp dụng và viện dẫn điều luật đã chính xác, đầy đủ chưa. Việc giải quyết của Tòa án có đảm bảo quyền lợi của các đương sự trong vụ án không.

2.Kỹ năng phát hiện vi phạm:

          Để phát hiện vi phạm của Tòa án trong việc giải quyết vụ án dân sự, hành chính, ngoài việc kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định của Tòa án, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án (đối với những vụ án Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp), Kiểm sát viên cần phải nắm bắt, xử lý các thông tin về vụ án qua các kênh thông tin như: Đơn khiếu nại của đương sự, dư luận xã hội trên các phương tiện thông tin đại chúng, các thông tin do các cơ quan, tổ chức chuyển đến… Mặt khác, Kiểm sát viên cũng phải chú ý đến những vụ án có tính nhạy cảm, được xã hội quan tâm nhất là đối với các vụ án mà Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người lao động trong vụ án lao động, không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện trong vụ án hành chính.

3.Tích cực thực hiện quyền yêu cầu của Viện kiểm sát:

          Khi kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án mà phát hiện có vi phạm hoặc nghi ngờ có vi phạm thì phải thực hiện ngay các quyền yêu cầu của Viện kiểm sát như: Yêu cầu Tòa án chuyển hồ sơ để nghiên cứu, yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm.

4.Tăng cường công tác phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp:

          Để việc phát hiện vi phạm, kiến nghị và kháng nghị phúc thẩm được chính xác, kịp thời thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Sự phối hợp giữa viện kiểm sát các cấp được thể hiện ở những nội dung sau:

          -Viện kiểm sát cấp sơ thẩm phải chuyển đầy đủ, kịp thời các bản án, quyết định của Tòa án cùng cấp cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm.

          -Thực hiện tốt các quy định của Ngành về việc thỉnh thị và trả lời thỉnh thị trước khi ban hành kháng nghị nhằm hạn chế việc kháng nghị không được Viện kiểm sát cấp trên bảo vệ.

          - Quá trình kiểm sát mà phát hiện bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật mà đang trong thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thì nên trao đổi để Viện kiểm sát cấp huyện ban hành kháng nghị nhằm giúp cho Viện kiểm sát cấp huyện hoàn thành các chỉ tiêu nghiệp vụ của ngành.

          - Đối với những trường hợp cần yêu cầu Tòa án cấp huyện chuyển hồ sơ vụ án để nghiên cứu, Viện kiểm sát tỉnh cần phối hợp, đề nghị Viện kiểm sát huyện làm việc trước với Tòa án để khi Viện kiểm sát tỉnh giao công văn yêu cầu chuyển hồ sơ thì Tòa án cấp huyện thực hiện ngay việc chuyển hồ sơ như hướng dẫn trong Thông tư 03, 04. Sự phối hợp này sẽ hạn chế được tình trạng Tòa án đưa ra nhiều lý do để trì hoãn, kéo dài thời gian chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát làm ảnh hưởng đến công tác kháng nghị phúc thẩm.

5.Thường xuyên ban hành Thông báo rút kinh nghiệm:

          Thông qua công tác kiểm sát bản án, quyết định và tham gia xét xử theo trình tự phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh cần tổng hợp những vi phạm của Tòa án để ban hành Thông báo rút kinh nghiệm cho Viện kiểm sát cấp huyện nghiên cứu. Trong Thông báo rút kinh nghiệm, ngoài việc phân tích những vi phạm của Tòa án thì phải chỉ ra được những tồn tại, thiếu sót cũng như những ưu điểm của Viện kiểm sát cấp huyện trong việc phát hiện vi phạm của Tòa án. Có như vậy mới vừa động viên, khích lệ, vừa kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót, tồn tại, giúp cho Viện kiểm sát cấp huyện thực hiện tốt hơn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính nói chung và công tác kháng nghị phúc thẩm nói riêng.

III. Những bài học kinh nghiệm

          Thông qua thực tiễn kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực giải quyết án dân sự, hành chính,Phòng 10 đã rút ra được những bài học kinh nghiệm sau:

          Một là: Phải nghiên cứu, nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát để vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính.

          Hai là: Phải luôn luôn lắng nghe, tìm hiểu những nguyện vọng của đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ nhưng cũng phải tuân thủ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự.

          Ba là: Thường xuyên củng cố, tăng cường sự phối hợp, trao đổi nghiệp vụ giữa Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính nói chung và công tác kiến nghị,  kháng nghị phúc thẩm nói riêng.

 IV.Kết luận

          Kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm là các quyền năng pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, là nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp. Phòng 10- VKSND tỉnh Quảng Trị đã thực hiện các quyền năng pháp lý đó  trong thực tiễn công tác của mình và đã đạt được thành công nhất định. Hy vọng những kỷ năng này sẽ được áp dụng trong toàn ngành nhằm góp phần đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính của Tòa án được tuân thủ đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân được tôn trọng và bảo vệ, đồng thời giúp ngành kiểm sát tăng cường công tác kiểm sát hoạt động pháp theo tinh thần Nghị quyết số 37/2012/QH12, hoàn thành tốt các chỉ tiêu nghiệp vụ đề ra.

          Trên đây là Tham luận về những kỹ năng phát hiện vi phạm của Tòa án trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính để nâng cao chất lượng kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm các loại án dân sự, hành chính của Phòng 10.

 

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

                                                         TỈNH QUẢNG TRỊ              

                               PHÒNG KS GIẢI QUYẾT ÁN DÂN SỰ (P9)

THAM LUẬN

Các biện pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình

 
               Thưa hội nghị: Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình là một trong những công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp của ngành kiểm sát theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND năm 2014; nhằm bảo đảm việc giải quyết các vụ, việc dân sự của Tòa án có căn cứ, đúng pháp luật.
   

         Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự bắt đầu từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ, việc dân sự đến khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị theo khoản 1 Điều 310a BLTTDS.

     Thực tế những năm qua việc thực hiện công tác này ở cả hai cấp đã đạt được những kết quả nhất định, thể hiện như đã phát hiện nhiều vi phạm của Tòa án từ đó ban hành được nhiều kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc kiến nghị khắc phục vi phạm. Tuy nhiên, cả hai cấp kiểm sát vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót cần phải có biện pháp khắc phục. Để nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình ở giai đoạn sơ thẩm, Viện kiểm sát hai cấp cần nghiên cứu thực hiện tốt các biện pháp sau đây:

          -Về việc kiểm sát Thông báo thụ lý vụ, việc dân sự; việc trả lại đơn khởi kiện: Khi nhận được văn bản thông báo thụ lý vụ, việc dân sự của Tòa án thì cán bộ, kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát và kiểm tra nội dung của các thông báo; nếu phát hiện vi phạm thì tập hợp báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện theo quy định của pháp luật. Nếu vụ án thuộc trường hợp VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm thì báo cáo đề nghị Viện trưởng phân công KSV tham gia phiên tòa và thông báo cho Tòa án theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 04.

          -Về nghiên cứu hồ sơ vụ án và lập hồ sơ kiểm sát: KSV tham gia phiên tòa phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án để nắm đầy đủ nội dung vụ án và các quy định của pháp luật có liên quan. Cán bộ, KSV phải lập hồ sơ kiểm sát theo đúng quy định của VKSNDTC tại Hướng dẫn số 27/HD-VKSTC-V5 ngày 22/5/2014; dự thảo đề cương tham gia hỏi, chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên tòa và báo cáo đề xuất với lãnh đạo Viện kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án và quan điểm giải quyết để lãnh đạo Viện duyệt trước khi tham gia phiên tòa.

    -Về kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa: Tại phiên tòa KSV kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Nếu phát hiện vi phạm thì phải có ý kiến để Hội đồng xét xử khắc phục kịp thời, nếu không khắc phục được như có thành phần Hội đồng xét xử không đúng với quyết định đưa vụ án ra xét xử mà trước đó không có quyết định thay đổi thì phải đề nghị hoãn phiên tòa... Thời gian vừa qua có trường hợp tại phiên tòa đương sự đề nghị thay đổi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa vì không khách quan hoặc đề nghị hoãn phiên tòa để triệu tập nhân chứng nhưng khi chủ tọa hỏi ý kiến của KSV thì KSV không có ý kiến gì mà chỉ gật đầu đồng ý. Như vậy là KSV đó đã không thể hiện được vai trò của mình tại phiên tòa. Trong trường hợp này KSV phải phân tích xem xét ý kiến của đương sự có căn cứ hay không, nếu có căn cứ rõ ràng là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không khách quan thì phải đề nghị thay thế bằng một Thẩm phán khác...

          -Về tham gia hỏi tại phiên tòa: Tại phiên tòa KSV hỏi các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác. KSV có quyền hỏi tất cả các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án mà không kể là tố tụng hay nội dung. Tuy nhiên không được hỏi những nội dung mà Hội đồng xét xử đã hỏi và làm rõ.

    -Về phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, KSV phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Bài phát biểu của KSV phải làm theo mẫu số 6c ban hành kèm theo quyết định số 566 của VKSTC. Theo quy định tại Điều 262 BLTTDS mới có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 thì VKS phát biểu cả về tố tụng lẫn nội dung vụ án. Tuy nhiên hiện nay vẫn theo quy định củ nên không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án nhưng KSV không thể phát biểu một cách sơ sài, qua loa mà phải phân tích kỷ việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Ví dụ như việc thụ lý vụ án, việc xác định quan hệ tranh chấp có đúng không; việc xác định tư cách của những người tham gia tố tụng và đưa họ vào tham gia tố tụng có đúng không...Thực tế Tòa án thường đưa thiếu những người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên cấp phúc thẩm phải hủy án để giải quyết lại. Từ ngày 01/7/2016 khi BLTTDS sửa đổi có hiệu lực pháp luật thì VKS tỉnh sẽ tổ chức hội nghị tập huấn sau khi tiếp thu tập huấn của VKSTC. Khi đó nội dung này sẽ được nói rõ và đầy đủ hơn.

     -Kiểm sát viên phải theo dõi, ghi chép đầy đủ diễn biến hoạt động của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Kết thúc phiên tòa KSV phải kiểm tra biên bản phiên tòa, nếu thấy cần thiết KSV yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa.

     -Hoạt động sau phiên tòa: KSV tham gia phiên tòa phải hoàn thiện ý kiến bằng văn bản và gửi cho Tòa án theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch số 04; đồng thời báo cáo kết quả với lãnh đạo Viện, đề xuất kháng nghị phúc thẩm khi xét thấy bản án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Nếu hết thời hạn kháng nghị của cấp mình thì báo cáo lên VKS cấp trên kháng nghị. Sau khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và nhận được thông báo về việc kháng cáo, KSV cấp sơ thẩm phải sao gửi kèm phiếu kiểm sát cho VKS tỉnh để thực hiện việc kiểm sát theo quy định.

      -Về việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án: KSV phải kiểm sát tất cả các quyết định như quyết định chuyển vụ, việc dân sự cho Tòa án khác (Đ 37); quyết định nhập tách vụ án (K3 DD38); quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Đ 123); quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (Đ 195); quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm (Đ 208). Khi nhận được các quyết định trên cán bộ, KSV phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát để kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định như thời hạn gửi quyết định cho VKS, nội dung, hình thức các quyết định; nếu có vi phạm thì xác định mức độ vi phạm để kiến nghị với Tòa án khắc phục đối với từng quyết định hoặc tập hợp kiến nghị chung.

       Kiểm sát bản án, quyết định để thực hiện quyền kháng nghị: Đối với các quyết định CNSTTCCĐS; quyết định tạm đình chỉ; đình chỉ giải quyết vụ án; bản án sơ thẩm sau khi nhận được phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát và hồ sơ kiểm sát theo mẫu; kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định. Trường hợp phát hiện vi phạm về thời hạn gửi cho VKS hoặc bản án, quyết định vi phạm về hình thức, sai sót về nội dung không nghiêm trọng thì kiến nghị với Tòa án. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng (đối với các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ, bản án chưa có hiệu lực pháp luật) thì phải kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc báo cáo đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (đối với QĐCNSTTCCĐS, hoặc các quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật).

            Quá trình kiểm sát xét thấy cần thiết để báo đảm cho việc kháng nghị hoặc bảo vệ quan điểm kháng nghị tại phiên tòa thì KSV báo cáo đề xuất với lãnh đạo làm văn bản yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho VKS hồ sơ, tài liệu, vất chứng theo quy định tại khoản 4 Điều 85, khoản 2 Điều 94 BLTTDS và Điều 4 Thông tư liên tịch 04.

       Thưa các đồng chí! Năm 2016 khâu công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình tiếp tục xác định nhiệm vụ trọng tâm có tính đột phá là: triển khai thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao vị trí, vai trò, trách nhiệm của KSV trước, trong và sau phiên tòa dân sự. Đồng thời thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 04/2012 ngày 17/5/2012 của VKSNDTC về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm. Để làm tốt khâu công tác kiểm sát này, phòng 9 đề nghị các đơn vị thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

   -Nâng cao chất lượng tham gia phiên tòa, phiên họp.

          -Tiếp tục tổ chức và nâng cao chất lượng các phiên tòa rút kinh nghiệm, cải tiến phương pháp nhận xét, đánh giá phiên tòa rút kinh nghiệm.

           -Kiểm sát chặt chẽ các bản án, quyết định; tích cực phát hiện vi phạm và có biện pháp khắc phục vi phạm kịp thời.

           -Nâng cao số lượng và chất lượng kháng ngị phúc thẩm, nhất là kháng nghị ngang cấp.

          -Phối hợp chặt chẽ giữa VKS cấp huyện với phòng 9 để phát hiện vi phạm, báo cáo đề nghị VKS cấp cao kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đạt hiệu quả.

            -Đề nghị lãnh đạo VKS hai cấp bố trí cán bộ, KSV có năng lực và nhiệt tình tâm huyết với công tác kiểm sát lĩnh vực dân sự.

             Cuối cùng tôi xin chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cám ơn các đồng chí.

                   

                                                                                                                                                         

 VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN                        

        TỈNH QUẢNG TRỊ                                  

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN                                        

         HUYỆN HẢI LĂNG                              

 
 

THAM LUẬN

Về việc tăng cường công tác kiến nghị các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm, tội phạm

 

          Kính thưa: Các vị đại biểu, khách quý!

          Kính thưa các đồng chí tham dự Hội nghị!

          Trong không khí cả nước đón mừng năm mới, tiến tới chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12. Hôm nay VKSND tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội Nghị tổng kết công tác kiểm sát năm 2015, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2016. Đại diện lãnh đạo VKSND huyện Hải Lăng tôi trình bày tham luận về tăng cường công tác kiến nghị các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm, tội phạm tại Hội nghị.

1.Khái quát tình hình của địa phương và công tác kiến nghị của Viện kiểm sát:

          Huyện Hải Lăng có dân số hơn 87 nghìn người, có 2 tuyến Quốc lộ đi qua địa bàn huyện, trong đó Quốc Lộ 49C có chiều dài hơn 20 Km và Quốc lộ 1A có chiều dài hơn 21 Km. Song song với Quốc lộ 1A là tuyến đường sắt Bắc - Nam; cùng với hàng trăm Km đường giao thông nông thôn. Với địa bàn và hệ thống giao thông nhiều loại nên tình trạng tai nạn giao thông xảy ra khá phức tạp; liên quan đến giải quyết tai nạn giao thông là hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.  Trong năm 2015 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng đã tiến hành kiểm sát khám nghiệm hiện trường 39 vụ tai nạn giao thông; trong đó có 14 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm chết 11 người và bị thương 6 người đã được phân loại thụ lý tin báo tội phạm để giải quyết. Ngoài ra còn có 4 vụ tai nạn giao thông đường sắt làm chết 4 người, bị thương 4 người. Thông qua công tác kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông, phát hiện những vi phạm của các cơ quan hữu quan. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng đã tăng cường công tác kiến nghị những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. 

          Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014, Trường hợp hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng … thì Viện kiểm sát nhân dân kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm và xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật.

          Ngày 28/3/2015 qua công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường sắt giữa xe mô tô 74D1-000.22 với đoàn tàu SE1 tại đường ngang dân sinh thuộc địa phận xã Hải Trường, huyện Hải Lăng. Hậu quả: làm 2 người đi trên xe mô tô chết. Quan sát tổng thể hiện trường tai nạn và qua xác minh ban đầu nhận thấy tại đoạn đường ngang này và một số đường ngang lân cận có nhiều cây xanh mọc vượt quá 1,5 mét và có tán rộng che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn thương tâm. Trên cơ sở quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát, và Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự Đơn vị Hải Lăng đã ban hành kiến nghị Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý đường sắt Bình Trị Thiên thực hiện đúng Điều 35 Luật đường sắt năm 2005 và Thông tư 33 ngày 15/8/2012 của Bộ giao thông vận tải quy định về đường ngang dân sinh để khắc phục vi phạm.

          Trước đó trong năm 2014 qua công tác  khám nghiệm hiện trường tại Km 9 + 125,6 nơi giao nhau giữa đường tỉnh 582B với Quốc lộ 49C thuộc địa phận xã Hải Dương, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xảy ra vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng giữa xe ô tô và xe mô tô hậu quả làm một người chết. Trong khi thực hiện công tác kiểm sát chúng tôi thấy: việc đặt biển báo nguy hiểm nhầm lẫn, không đúng quy định, cụ thể trên đường tỉnh 582B đặt biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên còn trên Quốc lộ 49C lại đặt biển báo nguy hiểm giao nhau với đường ưu tiên. Với cách lắp đặt nhầm lẫn này đã gây ra sự nhận thức không đúng của người tham gia giao thông dẫn đến xảy ra tai nạn đáng tiếc. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng đã có Văn bản Kiến nghị Hạt quản lý giao thông đường bộ huyện Hải Lăng thực hiện đúng quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2008 và Thông tư 17/2012/TT-BGTVT ngày 29/5/2012 của Bộ giao thông vận tải về việc: Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ để khắc phục vi phạm. Các kiến nghị của Viện kiểm sát đều đã được các đơn vị hữu quan thực hiện ngay.

2. Hiệu quả tác động từ văn bản kiến nghị của Viện kiểm sát:  

          Những văn bản kiến nghị trên đã được các cơ quan tư pháp, cơ quan hữu quan nghiêm chỉnh tiếp thu, sửa chữa và khắc phục kịp thời.

          Đối với các đoạn đường mà đơn vị chủ quản có những vi phạm bị Viện kiểm sát kiến nghị, đã được khắc phục thì tình trạng tai nạn giao thông đã giảm thiểu một cách đáng kể, tạo nên sự an toàn cho người tham gia giao thông, được chính quyền địa phương và nhân dân ủng hộ.

          Qua kiến nghị của Viện kiểm sát các đơn vị chủ quản cũng đã có ý kiến đề xuất Ban an toàn giao thông huyện tăng cường công tác tuyên truyền, vận động và giáo dục, phòng ngừa tai nạn giao thông cho nhân dân trên địa bàn huyện. Ban an toàn giao thông huyện đã có kế hoạch cụ thể nhằm triển khai trong năm 2016.

3. Thông qua công tác thực hiện chức năng nhiệm vụ ban hành kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan. Viện KSND huyện Hải Lăng rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

          - Thứ nhất, quán triệt đầy đủ nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKS nhân dân năm 2014 đến toàn thể đội ngũ Cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị để Cán bộ, Kiểm sát viên nắm vững, thống nhất thực hiện.

          - Thứ hai, Thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Viện KSND tỉnh, tranh thủ sự lãnh đạo quan tâm ủng hộ của cấp ủy Đảng đối với công tác kiến nghị của Viện kiểm sát. Tăng cường công tác kiểm sát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành, qua kiểm sát phát hiện vi phạm kịp thời ban hành văn bản kiến nghị đối với cơ quan hữu quan để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS nhân dân.

          - Thứ ba,  Toàn thể cán bộ, công chức đơn vị nhận thức nghiêm túc việc ban hành kiến nghị đối các cơ quan hữu quan trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm và tội phạm là góp phần thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về công tác phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm; Chỉ thị số 01 ngày 02/01/2015 của Viện trưởng VKS nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2015 và Kế hoạch công tác kiểm sát năm 2015 của VKS nhân dân tỉnh;góp phần cùng với cấp ủy Đảng chính quyền địa phương, các cơ quan hữu quan trong cuộc đấu tranh phòng ngừa vi phạm, tội phạm.

          - Thứ tư, Để kiến nghị của Viện kiểm sát thực sự hiệu quả được tiếp thu, vi phạm pháp luật được sửa chữa kịp thời, thì mỗi một cán bộ, Kiểm sát viên không ngừng học tập, nghiên cứu, làm rõ căn cứ pháp lý, hậu quả tác hại của vi phạm đồng thời kiên quyết thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật. Khẳng định ngày một tốt hơn vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong công cuộc cải cách tư pháp giai đoạn hiện nay.

          Bài tham luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng đến đây là kết thúc. Kính chúc các đồng chí lãnh đạo, quý vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn.

 

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN                        

        TỈNH QUẢNG TRỊ                                  

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN                                       

         HUYỆN CAM LỘ         

THAM LUẬN

Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

và kiến nghị khởi tố

          Kính thưa Hội nghị!

          Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nguồn căn cứ để kịp thời phát hiện hành vi phạm tội xảy ra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để xem xét, quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Đây là thời điểm sự việc mới xảy ra; việc kiểm tra, xác minh, thu thập các dấu vết, tài liệu một cách khách quan, đầy đủ và kịp thời sẽ có giá trị chứng minh rất cao. Vì vậy, chất lượng của công tác này sẽ là tiền đề quyết định chất lượng, hiệu quả giải quyết vụ án trong các giai đoạn tiếp theo. Trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân là THQCT, kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, không làm oan người vô tội, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội.

          Kính thưa Hội nghị!

          Thông qua hoạt động tổng kết công tác kiểm sát năm 2014 và sơ kết 1 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT ngày 20/8/2013 của liên ngành VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT, chúng tôi nhận thấy công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn còn một số hạn chế, thiếu sót như: Tố giác, tin báo về tội phạm không được vào sổ thụ lý theo quy định; thụ lý, giải quyết không đúng thẩm quyền; để quá hạn giải quyết; chậm ra quyết định khởi tố vụ án…Một số nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là: Lực lượng ĐTV, KSV còn mỏng; một số cán bộ khi thực hiện nhiệm vụ còn chủ quan; công tác phối hợp giữa các ngành chưa được chặt chẽ; một số quy định của pháp luật chưa được cụ thể … Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, xác định được nguyên nhân, ngay từ đầu năm khi xây dựng kế hoạch công tác theo Chỉ thị số 01-CT/VKSTC ngày 02/01/2015 của Viện trưởng Viện KSNDTC và kế hoạch số 54/KH-VKS-VP ngày 21/01/2015 của Viện KSND tỉnh Quảng Trị,  chúng tôi đã đề ra và thực hiện tốt các biện pháp sau đây:

          - Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT, đồng thời triển khai thực hiện các nội dung mới được bổ sung trong Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 về công tác THQCT và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Nâng cao ý thức, trách nhiệm của CB, KSV về vị trí, vai trò của khâu công tác này trong quá trình tiến hành tố tụng.

          - Phân công cán bộ trực 24/24h để tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tham gia khám nghiệm, xét đề nghị phê chuẩn bắt, khám xét khẩn cấp… Phân công và chỉ đạo Kiểm sát viên định kỳ hàng tuần, tháng, quý, 6 tháng tiến hành nắm kết quả tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Hàng tuần, tháng, khi đối chiếu số liệu Kiểm sát viên phải lập biên bản có Điều tra viên ký xác nhận. Theo đó, việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được vào sổ quản lý, theo dõi đầy đủ, số liệu được cập nhật hàng ngày, ghi chép đầy đủ các thông tin ngày tháng nhận, nội dung tin báo, kết quả giải quyết. Hồ sơ phân loại, giải quyết được ĐTV, KSV lập, sắp xếp, lưu giữ theo trình tự từ khi thụ lý đến khi kết thúc giải quyết.

          - Kiểm sát viên được phân công phải tích cực, chủ động kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Ngay từ khi có thông tin về tội phạm, KSV phải phối hợp với ĐTV tiến hành phân loại tố giác, tin báo về tội phạm và đề ra yêu cầu xác minh; coi việc đề ra yêu cầu xác minh là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện chủ trương“Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”. Đơn vị đã chỉ đạo tất cả các vụ việc, KSV đều phải có yêu cầu xác minh gửi ĐTV được phân công thụ lý. Để yêu cầu xác minh có chất lượng, KSV trong đơn vị đã thực hiện tốt cácbước sau: 1, Nghiên cứu kỹ hồ sơ, các văn bản pháp luật có liên quan; 2, Phân tích, đánh giá chứng cứ, tài liệu đã thu thập được và các vấn đề cần tiếp tục xác minh làm rõ; 3, Nghiên cứu thủ tục tố tụng để xem thủ tục nào ĐTV chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng, chưa đủ (Khám nghiệm hiện trường, tử thi; thu giữ đồ vật, tài liệu, khám xét…);  4, Soạn thảo và gửi yêu cầu xác minh;  5, Thường xuyên theo dõi tiến độ kiểm tra, xác minh; 6, Nghiên cứu hồ sơ để xác định các yêu cầu xác minh đã được Điều tra viên thực hiện đầy đủ  hay chưa, nếu việc thực hiện chưa đầy đủ thì tiếp tục đề nghị Điều tra viên thực hiện.

          - Ngoài việc kiểm sát chặt chẽ hoạt động phân loại, giải quyết tố giác, tin báo của ĐTV; tất cả các trường hợp trước khi kết thúc giải quyết,  KSV phải kiểm tra, đánh giá toàn bộ nội dung vụ việc, trực tiếp gặp hỏi đối tượng, người bị tạm giữ, những người có liên quan để có hướng đề xuất xử lý phù hợp pháp luật.

          - Bên cạnh đó, đơn vị đã phân công hai Kiểm sát viên thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng là những người được giao thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; bởi lẽ hiện nay chúng ta đang thực hiện kiểm sát việc tạm giữ hàng ngày tại nhà tạm giữ Công an huyện, thông qua công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ sẽ hỗ trợ tốt cho công tác kiểm sát xử lý tin báo, tố giác tội phạm. Và làm tốt công tác kiểm sát giải quyết tin báo, tố giác tội phạm tạo nền tảng cho hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam trong nhà tạm giữ được thuận lợi, không để xảy ra trường hợp nào bị bắt, tạm giữ oan, sai theo quy định.

          - Trong công tác phối hợp: Đơn vị chủ trì xây dựng dự thảo, ký Quy chế phối hợp liên ngành về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố với CQĐT, Hạt Kiểm Lâm, Chi cục Thuế, Thanh tra huyện.          ( Đơn vị hoàn thành dự thảo, gửi các ngành phối hợp tham gia ý kiến sau đó chỉnh sửa, bổ sung và tổ chức ký kết ). Thực hiện quy chế, hàng tháng các Ngành đều thông báo và báo cáo tình hình tiếp nhận, phân loại, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo quy định của TTLT số 06 năm 2013. Ngoài ra, trong quy chế và chương trình phối hợp công tác giữa UBMTTQVN huyện với VKS huyện đã xác định cụ thể các nội dung phối hợp trong hoạt động kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của hai cơ quan.

          Đặc biệt, quan hệ phối hợp giữaCơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong thời gian qua được tăng cường. Đây là mối quan hệ chặt chẽ, có hiệu quả, với mục đích chung là đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhưng không làm mất đi tính độc lập của từng ngành và chưa hề nảy sinh tình trạng quyền anh, quyền tôi trong quan hệ tố tụng. Sự phối hợp được thể hiện ngay từ khi tiếp nhận thông tin liên quan đến tội phạm; Điều tra viên đều cung cấp đầy đủ các thông tin, tài liệu thu thập được cho Kiểm sát viên để cùng nghiên cứu, thống nhất trong việc thu thập các tài liệu, chứng cứ. Kiểm sát viên và Điều tra viên đã định hướng công tác kiểm tra, xác minh ngay từ đầu, đó là cần thu thập những thông tin gì, chứng cứ nào để buộc tội, chứng cứ nào là không có tội, trên cơ sở phân tích sẽ có những quyết định xử lý nhanh chóng, kịp thời. Đối với các tin báo, tố giác tội phạm có tính chất phức tạp, hoặc giữa ĐTV và KSV chưa thống nhất được thì báo cáo lãnh đạo hai ngành tiến hành họp bàn thống nhất hướng giải quyết. 100% số vụ việc trước khi kết thúc giải quyết, ĐTV đều cung cấp hồ sơ để KSV nghiên cứu, tham gia ý kiến trước khi ĐTV tham mưu cho lãnh đạo CQĐT ra quyết định giải quyết.

          Trong năm 2015, Viện kiểm sát Cam Lộ đã họp bàn với CQĐT huyện về phương pháp kiểm tra việc tiếp nhận, phân loại tố giác, tin báo về tội phạm của Công an các xã, thị trấn. Theo đó, liên ngành thống nhất giao cho Viện kiểm sát ra quyết định, kế hoạch kiểm tra. Căn cứ Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 và quy chế của Ngành, quyết định ghi rõ thành phần gồm họ tên của trưởng đoàn, ĐTV, KSV và một số nội dung khác. Hoạt động này của đơn vị phù hợp với kết luận của đồng chí Viện trưởng Viện KSND tỉnh tại Hội nghị giao ban VKS hai cấp tháng 11/2015 ( Thông báo số 1189/TB-VKS-VP ngày 10/11/2015 của Văn phòng VKS tỉnh).

            Kết quả đạt được: Thông qua việc thực hiện các biện pháp nêu trên, năm 2015 tỉ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT đạt 93, 5% ( vượt chỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết số 37 năm 2012 của Quốc hội và chỉ tiêu của Ngành), không có tin báo quá hạn giải quyết, 100% số người bị bắt, tạm giữ đều được chuyển xử lý hình sự. Trong kỳ, VKS đã yêu cầu CQĐT khởi tố 01 vụ / 01 bị can. Viện kiểm sát Cam Lộ đã phối hợp với UBMTTQVN huyện trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại CQĐT Công an huyện và Hạt Kiểm Lâm huyện. Qua kiểm sát đã ban hành 02 bản kết luận có kiến nghị yêu cầu khắc phục các vi phạm như: Chưa kịp thời vào sổ thụ lý tố giác, tin báo; vi phạm thời hạn Phân công tiếp nhận, giải quyết và thời hạn gửi các Quyết định phân công ĐTV giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm cho Viện kiểm sát…. Đơn vị phối hợp với CQĐT tiến hành trực tiếp kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong công tác tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo tội phạm tại 04 đơn vị Công an cấp xã; qua kiểm tra, đã ban hành 04 bản kiến nghị yêu cầu khắc phục các vi phạm: Sau khi tiếp nhận tin báo đã báo cho CQĐT theo thẩm quyền nhưng sau đó không thể hiện bằng văn bản; Phân loại tố giác, tin báo về tội phạm không đúng; không chuyển tố giác, tin báo về tội phạm cho Cơ quan điều tra…( yêu cầu Công an cấp xã chuyển 02 vụ việc có dấu hiệu tội phạm đến CQĐT để xử lý theo quy định).

          Nhờ chất lượng công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đạt chất lượng cao nên ở các giai đoạn tiếp theo không để xảy ra trường hợp khởi tố sau đó phải đình chỉ vì hành vi không cấu thành tội phạm, không có trường hợp đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 25 BLHS, cũng như không có trường hợp nào Tòa án tuyên không phạm tội, không để xảy ra trường hợp nào phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

          * Kiến nghị, đề xuất:

          Để công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, công tác THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố nói riêng ngày càng đạt chất lượng, hiệu quả cao, chúng tôi đề nghị các đơn vị nghiệp vụ Viện KSNDTC và Viện KSND tỉnh tăng cường thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ về cả hạn chế, thiếu sót cũng như những sáng kiến, kinh nghiệm hay, cách làm tốt của các đơn vị để học hỏi và rút kinh nghiệm.

          Trên đây là một số ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ về nâng cao chất lượng THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, rất mong nhận được sự trao đổi của Hội nghị. Cuối cùng, nhân dịp năm mới, xin kính chúc các đồng chí lãnh đạo, quý vị đại biểu, cùng toàn thể các đồng chí dồi dào sức khỏe, hạnh phúc, thành công trong cuộc sống. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp!

 Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!

 

                                                  

 

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn