13:15 ICT Thứ hai, 01/06/2020
“Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 60 năm thành lập ngành Kiểm sát nhân dân (26/7/1960 - 26/7/2020)" "Nhiệt liệt chào mừng 128 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2018)!"

Trang chủ » Tổ chức » Tin tức » Tin từ Viện kiểm sát Quảng Trị

Tài liệu liệu Hội nghị trực tuyến

Thứ hai - 01/06/2015 15:42

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỐI CAO

 

 
  1

 

 

 

Số:    /CT-VKSTC

(Dự thảo)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 
  1

 

 

 

Hà Nội, ngày     tháng 6 năm 2015

 

                                                      

CHỈ THỊ

Về tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai

và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại

cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

­­­­­­­­­­­­­­­­­

 

 

          Thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, ngành Kiểm sát nhân dân đã nỗ lực triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động tố tụng hình sự, bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hạn chế đáng kể các trường hợp làm oan người vô tội. Hoạt động phòng chống oan, sai của Viện kiểm sát các cấp trong những năm gần đây đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên so với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì còn hạn chế, bất cập do quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp có thiếu sót, vi phạm, dẫn đến còn bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, làm oan người vô tội; việc thực hiện công tác bồi thường theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhiều trường hợp không kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị oan.

          Để tạo bước chuyển biến tích cực, hạn chế khắc phục tình trạng trên, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 trong công tác đấu tranh chống tội phạm; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu các đơn vị trong toàn ngành thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:       

          1. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt điều tra; nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

          2. Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 nhằm hạn chế việc bỏ lọt tội phạm ngay từ khi khởi tố vụ án và kiên quyết không để xảy ra các trường hợp oan, sai trong suốt quá trình tố tụng.

          3. Kiểm sát chặt chẽ các căn cứ, trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo việc khởi tố bị can, phê chuẩn khởi tố bị can thận trọng, có đầy đủ căn cứ, việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là biện pháp tạm gữi, tạm giam  đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

          4. Tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiểm sát chặt chẽ việc tạm giữ, tạm giam, các khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động giam giữ, bảo đảm kịp thời phát hiện sớm các trường hợp có dấu hiệu bị bức cung, nhục hình, xử lý nghiêm minh các đơn vị, cá nhân có liên quan đến bức cung, nhục hình.

          5. Kiểm sát chặt chẽ các trường hợp đình chỉ điều tra, miễn trách nhiệm hình sự, hạn chế đến mức thấp nhất việc đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm. Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm kiểm tra thường xuyên và chặt chẽ đối với quyết định đình chỉ điều tra theo khoản 1 và 2 Điều 25 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự tránh oan, sai; bỏ lọt tội phạm.

          6. Nâng cao chất lượng truy tố, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải nắm vững các tình tiết trong hồ sơ vụ án, tích cực tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo việc nhận định, đánh giá chứng cứ đầy đủ, khách quan, toàn diện. Tăng cường công tác kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án, nâng cao số lượng, chất lượng kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án  ở các thủ tục, nhất là kháng nghị phúc thẩm. Tập trung đẩy nhanh tiến độ giải quyết các loại đơn kêu oan, đơn khiếu nại bức xúc kéo dài, đơn tố cáo vi phạm trong điều tra truy tố xét xử; kịp thời kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng.  

          7. Các đơn vị nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát cấp trên tăng cường công tác tổng kết thực tiễn, hướng dẫn chỉ đạo nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm kịp thời đối với các vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung, vụ án bị Tòa án cấp trên hủy án, án đình chỉ điều tra do không phạm tội, vụ án Tòa tuyên không phạm tội và các vi phạm khác trong quá trình giải quyết vụ án.

          8. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ, xử lý nghiêm minh, các cán bộ, Kiểm sát viên, Điều tra viên vi phạm pháp luật và quy chế của Ngành trong quá trình giải quyết vụ án dẫn đến oan, sai; đơn vị khiếu tố rà soát các đơn tố cáo vi phạm gây oan, sai trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử chuyển Cơ quan Điều tra đảm bảo xác minh giải quyết đơn kịp thời, đúng pháp luật;

          9. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiếp tục phối hợp với Viện kiểm sát các cấp và các cơ quan hữu quan tăng cường phát hiện các vi phạm, thiếu sót trong tố tụng hình sự dẫn đến oan, sai; kiên quyết khởi tố điều tra, xử lý những trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng; giải quyết kịp thời đơn khiếu nại, tố cáo về bức cung, dùng nhục hình trong giải quyết án hình sự.

          10. Đề cao trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm tập thể đối với các vụ việc oan sai. Đơn vị nào để xảy ra oan, sai thì thủ trưởng đơn vị đó chịu trách nhiệm trước Viện trưởng VKSNDTC. Kiên quyết không xét các danh hiệu thi đua đối với đơn vị có án oan;

         11. Viện kiểm sát các cấp định kỳ rà soát, báo cáo đầy đủ, kịp thời, chính xác về VKSNDTC các trường hợp đình chỉ không tội, các trường hợp Tòa án tuyên không phạm tội theo Quy chế thông tin báo cáo; danh sách các trường hợp người bị oan có đơn yêu cầu bồi thường; đẩy nhanh tiến độ giải quyết đơn yêu cầu bồi thường của người bị oan thuộc trách nhiệm của ngành Kiểm sát; có biện pháp giải quyết dứt điểm đối với các trường hợp có đơn yêu cầu bồi thường từ những năm trước còn tồn đọng; chủ động và có giải pháp tích cực trong việc thương lượng đối với người có đơn yêu cầu bồi thường, thẩm định hồ sơ đề nghị bồi thường để trình cơ quan có thẩm quyền sớm cấp kinh phí bồi thường, hạn chế việc người bị thiệt hại khởi kiện đòi bồi thường ra Tòa án.

         12. Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự phối hợp với các đơn vị trong Ngành và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, đề xuất xây dựng quy trình giải quyết việc bồi thường cho người bị oan thuộc phạm vi trách nhiệm của ngành Kiểm sát nhân dân.

          13. Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, Trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo, tập huấn chuyên sâu và nâng cao phương pháp, kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, góp phần thực hiện tốt Chỉ thị này.

          14. Viện Khoa học kiểm sát phối hợp với các đơn vị trực thuộc, Viện kiểm sát nhân dân các cấp tổng kết thực tiễn, tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, nhằm tăng cường trách nhiệm công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, chống bức cung, dùng nhục hình và chống oan, sai trong tố tụng hình sự. Viện kiểm sát nhân dân các cấp chủ động rà soát phối hợp xây dựng hoàn thiện các quy chế phối hợp với cơ quan điều tra, Tòa án cùng cấp bảo đảm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ phòng, chống oan sai trong giải quyết án hình sự.

15. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức quán triệt, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Chỉ thị này và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác phòng chống oan sai, thực hiện Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước  đối với người bị oan thuộc phạm vi trách nhiệm cấp mình.

          Chánh văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh Thanh tra VKSND tối cao giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị này./.

 

Nơi nhận:

- Chủ tịch Nước (để báo cáo)

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội (để báo cáo)

- Ủy ban Tư pháp Quốc hội (để báo cáo)

- Ban Nội chính Trung ương (để báo cáo)

- Lãnh đạo VKSNDTC (để chỉ đạo thực hiện)

- Viện kiểm sát quân sự Trung ương

- Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

- VKSND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Thủ trưởng các đơn vị Viện KSND tối cao;

- Lưu: VT, Vụ 3./.

VIỆN TRƯỞNG

 

 

 

 

 

 

    Nguyễn Hòa Bình

 

 

 

 

 

 

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

                  TỐI CAO

1                

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 
  1

 

 

 

        Hà Nội, ngày   tháng  6  năm 2015      

­­­­­­

BÁO CÁO TÓM TẮT

Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật

về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật

 

          Phòng, chống oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nhất và cũng là nhiệm vụ rất khó khăn đối với Ngành chúng ta. Thời gian qua, toàn Ngành đã nỗ lực thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp và đã thu được những kết quả tích cực trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống oan, sai và chống bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, oan, sai vẫn xảy ra tại nhiều địa phương, trong đó có một số trường hợp rất nghiêm trọng xâm phạm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến định, ảnh hưởng đến uy tín của Ngành, của các cơ quan tư pháp.

       Vì vậy, để có sự nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tình hình oan, sai và giải quyết bồi thường cho những người bị oan trong tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của VKSND; nghiêm túc, thẳng thắn với tinh thần tự phê bình cao, thảo luận tìm ra các giải pháp hữu hiệu để toàn Ngành triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ này trong thời gian tới, theo đó VKSND tối cao tiến hành tổ chức Hội nghị này. Đây chính là mục tiêu của Hội nghị.

          I. TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÒNG, CHỐNG OAN, SAI

1. Thực hiện các giải pháp chống oan, sai

Những năm qua, quán triệt, thực hiện chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật và nhất là sau khi Quốc hội ban hành Nghị quyết số 37/2012/QH13, Nghị quyết số 63/2013/QH13, lãnh đạo VKSND tối cao chỉ đạo toàn Ngành thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống oan, sai và chống bỏ lọt tội phạm. Cụ thể như:

1.1.Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành tập trung thực hiện nhiệm vụ phòng, chống oan, sai trong giải quyết án hình sự

- Chỉ đạo phòng, chống oan, sai thông qua các chỉ thị công tác hàng năm; Chỉ thị chuyên đề số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013; quy định những chỉ tiêu phòng, chống oan, sai trong Hệ thống chỉ tiêu nghiệp vụ cơ bản đánh giá công tác; chú trọng tổ chức tốt các hội nghị triển khai quán triệt trong toàn Ngành.

- Quản lý chặt chẽ tình hình oan, sai nhằm kịp thời chỉ đạo khắc phục chấn chỉnh thông qua các báo cáo (vụ án, tuần, tháng, 6 tháng và báo cáo chuyên đề hàng năm).

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với các trường hợp, các loại án và những đơn vị thường xảy ra oan, sai;

- Xử lý nghiêm minh đối với những cá nhân, người đứng đầu đơn vị để xảy ra oan, sai.

1.2.Đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế liên quan đến công tác Thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp trong lĩnh vực hình sự; chú trọng xây dựng, hoàn thiện cơ chế hữu hiệu phòng, chống oan, sai, như:

- Phối hợp xây dựng Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013;

- Đặc biệt chú trọng nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện pháp luật thể chế, bảo đảm các cơ sở, điều kiện pháp lý thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống oan, sai (Luật tổ chức VKSND; Bộ luật TTHS; Bộ luật hình sự; Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự; Luật tạm giữ, tạm giam,...).

- Yêu cầu xây dựng quy chế phối hợp với Cơ quan điều tra, Tòa án bảo đảm điều kiện thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chống oan, sai;

1.3.Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự; tạo môi trường tranh tụng dân chủ, công khai, góp phần làm rõ bản chất vụ án.

- Tổ chức các hội nghị tập huấn, hội thảo nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng, kinh nghiệm và chất lượng tranh tụng của KSV.

- Yêu cầu phối hợp tổ chức tốt hơn các phiên tòa rút kinh nghiệm;

- Phân công lãnh đạo, Kiểm sát viên có năng lực, kinh nghiệm, bản lĩnh THQCT và KSXX các vụ án lớn, phức tạp.

1.4. Chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự

- Tăng cường trách nhiệm công tố ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin báo;

- Đề cao trách nhiệm của lãnh đạo Viện, Kiểm sát viên trong phê chuẩn các lệnh, quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam; kiên quyết yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung đầy đủ chứng cứ trước khi phê chuẩn;

- Chủ động kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra; phối hợp chặt chẽ hơn với Cơ quan điều tra để nắm chắc tiến độ, kết quả điều tra chứng minh tội phạm, người phạm tội.

- Kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra, bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ, khách quan, toàn diện (gỡ tội, buộc tội) và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

- Chủ động tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung hoặc kiểm tra, thẩm định các chứng cứ buộc tội, các chứng cứ gỡ tội trong hồ sơ.

- Thận trọng, khách quan khi ban hành các lệnh, quyết định, nhất là quyết định truy tố, quyết định đình chỉ vụ án, bị can theo khoản 1, 2 Điều 25 BLHS.

- Kiên quyết hủy bỏ các quyết định thiếu căn cứ, trái pháp luật; đồng thời, yêu cầu hoặc trực tiếp ra các quyết định khi có đầy đủ căn cứ pháp luật.

- Tăng cường kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án để phát hiện những vi phạm pháp luật, nhất là những vụ án có dấu hiệu oan để kháng nghị khắc phục.

- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cao của các cơ quan tư pháp; chú trọng đối với đơn khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra, như bức cung, dùng nhục hình,...

1.5.Nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND tối cao

- Nắm chắc tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm trong hoạt động tư pháp;

- Kịp thời điều tra, kiên quyết xử lý nghiêm minh tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, nhất là các vụ án dẫn đến oan, sai,...;

1.6.Quản lý tốt tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp

- Phát hiện, quản lý chặt chẽ vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp để kiến nghị, kháng nghị khắc phục, chấn chỉnh; chú trọng kiến nghị với các bộ, ngành, Quốc hội các giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót dẫn đến oan, sai;

- Đặt ra chỉ tiêu kiến nghị, kháng nghị.

- Ban hành Hướng dẫn số 02/HD-VKSTC ngày 09/01/2013 về công tác quản lý, báo cáo tình hình chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp, phục vụ công tác kiến nghị, kháng nghị vi phạm;

1.7.Rà soát, giải quyết dứt điểm đơn khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, nhất là đối với đơn kêu oan

- Thành lập tổ nghiệp vụ, tổ chuyên viên liên ngành tiến hành kiểm tra, thẩm định lại những vụ án kêu oan phức tạp, dư luận xã hội quan tâm;

1.8.Chú trọng công tác tổng kết thực tiễn, hướng dẫn áp dụng pháp luật, thông báo rút kinh nghiệm

- Sơ kết 01 năm thực hiện Thông tư liên tịch số 06 về giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; 05 năm thực hiện Chỉ thị số 03/CT-VKSTC về tăng cường kháng nghị phúc thẩm hình sự; tổng kết 05 năm việc tổ chức thực hiện các phiên tòa rút kinh nghiệm,…

- Chú trọng hướng dẫn giải quyết án hình sự, nhất là đối với những loại tội dễ xảy ra oan, sai, như: trong giải quyết các vụ án giết người, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;...

- Tích cực tổng hợp vi phạm thiếu sót, ban hành thông báo rút kinh nghiệm, nhất là đối với các vụ án có bản án bị hủy, bị sửa lớn hoặc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội; đặt chỉ tiêu về ban hành thông báo rút kinh nghiệm;

1.9.Chỉ đạo mở các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng công tố và kiểm sát việc giải quyết án hình sự theo chuyên đề hoặc nhóm, loại tội phạm

- Yêu cầu chủ động tự tổ chức các hội thảo, hội nghị tập huấn nâng cao chất lượng công tố, công tác kiểm sát trong các khâu, các chuyên đề chuyên sâu;

- Các cơ sở đào tạo của Ngành tăng cường sử dụng các lớp đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết các vụ án hình sự theo nhóm, loại tội phạm cụ thể.

2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng, chống oan, sai

Những năm gần đây, tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp, tăng về số vụ và số người phạm tội; phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt nhưng các cơ quan tư pháp các cấp đã có nhiều nỗ lực, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Cơ bản hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền lợi ích của công dân. Oan, sai được hạn chế đáng kể so với những năm trước đây.

Đối với ngành Kiểm sát, trên cơ sở triển khai, thực hiện nghiêm túc, quyết liệt những giải pháp trên, kết quả công tác của ngành Kiểm sát đã góp phần quan trọng từng bước hạn chế, phòng ngừa oan, sai trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự; theo đó, các trường hợp oan, sai có xu hướng giảm dần và chiếm tỉ lệ nhỏ. Cụ thể:

- Số ngườibị bắt, tạm giữ về hình sự sau chuyển xử lý hành chính hoặc trả tự do giảm dần và chiếm tỷ lệ thấp (năm 2012: 3,9%; năm 2013: 3,4%; năm 2014: 1,7%);nhiều nơi không để xảy ra bắt, giam giữ oan (năm 2013, các tỉnh Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Tây Ninh, Hậu Giang,... năm 2014, các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Phú Yên,… các trường hợp bắt giữ, xử lý hình sự đạt 100%,...);

- Số hồ sơ có thiếu sót, vi phạm phải trả để điều tra bổ sung giảm và chiếm tỉ lệ thấp (số hồ sơ Viện kiểm sát trả Cơ quan điều tra chỉ chiếm 1,32%; Tòa án trả Viện kiểm sát chiếm 3,1%,; nhiều địa phương tỉ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung dưới 1%);

- Số bị can đình chỉ điều tra do oan có xu hướng giảm và chiếm tỉ lệ rất nhỏ (Cơ quan điều tra đình chỉ chiếm tỉ lệ 0,01%; Viện kiểm sát phải đình chỉ chiếm 0,002% số bị can đã giải quyết).

- Tỉ lệ truy tố đúng thời hạn đạt trên 99,9%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết số 37 của Quốc hội: 9,9%; truy tố đúng người, đúng tội danh đạt trên 99,6%, vượt chỉ tiêu Nghị quyết số 37: 4,6%.

- Số bị cáo Tòa án tuyên không phạm tội và bản án có hiệu lực, chiếm 0,005% bị cáo đã xét xử; các bản án, quyết định có dấu hiệu oan, sai phải hủy để điều tra, xét xử lại ngày càng hạn chế, nhiều địa phương không để xảy ra.

 - Số lượng, chất lượng kháng nghị hình sự tăng, kháng nghị được Tòa án chấp nhận đều vượt chỉ tiêu của Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội.

Đáng ghi nhận, thời gian qua ngành Kiểm sát đã phát hiện nhiều bản án có dấu hiệu oan, sai và kịp thời kháng nghị khắc phục, được dư luận xã hội đồng tình, điển hình, như: vụ ông Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang) bị kết án oan chung thân về tội “Giết người”; vụ Huỳnh Văn Nén (Bình Thuận), bị kết án chung thân về tội “Giết người”, “Cướp tài sản”; vụ Vũ Ngọc Dương (Hà Nội) bị kết án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;...

3. Tình hình oan, sai

Thời gian qua, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng. Mặc dù các cơ quan tư pháp đã có nhiều cố gắng, nhưng oan, sai trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự vẫn còn xảy ra; một số địa phương để xảy ra nhiều vụ oan (Sóc Trăng 07 người, Khánh Hòa 06 người, Thanh Hóa 05 người, Vĩnh Phúc 04 người, Đak Lak 04 người, Cần Thơ 04 người, Bến Tre 03 người, Bình Phước 03 người, Quảng Trị 02 người, Cà Mau 02 người, Đà Nẵng 02 người,...). Tuy số người bị oan chiếm tỉ lệ nhỏ so với số người đã xử lý (0,02%) nhưng một số trường hợp oan đã xâm phạm nghiêm trọng quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp bảo vệ, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng uy tín của cơ quan tư pháp.

Trong 3 năm, qua theo dõi, tổng hợp của Ngành và kết quả giám sát của Quốc hội thấy tình hình oan, sai, nổi lên là:

- Để xảy ra 18 trường hợp Viện kiểm sát đã truy tố Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội và bản án đã có hiệu lực.

- Một số trường hợp phải đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do hành vi không cấu thành tội phạm hoặc không có sự kiện phạm tội xảy ra (326 người); điển hình như vụ án giết người xảy ra tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng;

- Nhiều VKS không phát hiện yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hoặc trực tiếp khởi tố vụ án dẫn đến bỏ lọt tội phạm, nhiều trường hợp Tòa án phải trả hồ sơ yêu cầu khởi tố;

- Nhiều trường hợp thiếu sót, vi phạm trong phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; “đối với loại án kinh tế còn có những trường hợp khởi tố không đúng với bản chất của hành vi khách quan; có biểu hiện hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế thành các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; vi phạm thời hạn phê chuẩn quyết định khởi tố bị can còn xảy ra;

- Nhiều trường hợp việc tạm giữ, tạm giam thiếu căn cứ sau phải hủy bỏ; nhiều người bị bắt, tạm giữ về hình sự sau đó phải chuyển xử lý hành chính hoặc trả tự do (4.998 người), nhiều nơi chiếm tỉ lệ cao; quá hạn tạm giam xảy ra rất nhiều tại một số nơi;

- Dùng nhục hình trong tạm giữ, tạm giam vẫn xảy ra tại một số địa phương, điển hình như tại Sóc Trăng, Phú Yên, Bắc Giang,...

- Nhiều trường hợp đã vận dụng các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 BLHS đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 25 BLHS và khoản 2 Điều 107 BLTTHS chưa chính xác, không đúng; có trường hợp có dấu hiệu làm oan (không có tội nhưng đình chỉ theo Điều 25 BLHS) hoặc bỏ lọt tội phạm (có tội nhưng đình chỉ theo khoản 2 Điều 107, BLTTHS); có biểu hiện né tránh việc bồi thường;

- Nhiều hồ sơ vụ án phải trả để điều tra bổ sung do vi phạm tố tụng hình sự; quá hạn truy tố còn xảy ra tại một số địa phương; đáng lưu ý là còn 10 vụ án trên 5 năm vẫn chưa giải quyết xong, có vụ đã qua 12 năm (Bình Phước);

- Nhiều quyết định truy tố chưa đúng tội danh và khoản của BLHS, thiếu chứng cứ buộc tội phải rút quyết định truy tố (629 bị can truy tố thiếu căn cứ); một số quyết định truy tố có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội (186 người);

- Một số Kiểm sát viên còn lúng túng, bị động khi tham gia xét hỏi; chưa chủ động tranh tụng với luật sư và người tham gia tố tụng khác;

- Nhiều trường hợp Kiểm sát viên đánh giá sai tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò bị cáo; đề xuất áp dụng sai các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị xét xử sai tội danh, khung hình phạt (Tòa án cấp sơ thẩm xét xử: 110 bị cáo bị sai tội danh; 190 bị cáo áp dụng hình phạt không đúng;...);

- Còn để 46 bị cáo trường hợp Viện kiểm sát truy tố nhưng Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội;

- Nhiều địa phương vẫn có những bản án hình sự có sai sót, vi phạm phải hủy để điều tra, xét xử lại (1.653 bị cáo bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại; 184 bị cáo bị cấp giám đốc thẩm hủy án án để điều tra, xét xử lại; 629 bị cáo cấp phúc thẩm xét xử thấy chưa đủ căn cứ kết tội và 186 bị cáo có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm);

- Số lượng, chất lượng kháng nghị tại nhiều VKS địa phương còn thấp;

- Việc xem xét, giải quyết đơn giám đốc thẩm còn chậm; có trường hợp còn để kéo dài.

4. Nguyên nhân của oan, sai

      Qua kết quả hoạt động của Ngành, trên cơ sở kết quả của Đoàn giám sát của Quốc hội, thấy: oan, sai chủ yếu do những nguyên nhân sau:

4.1. “Nguyên nhân chính dẫn đến các trường hợp oan, sai chủ yếu thuộc về lỗi chủ quan của một số người tiến hành tố tụng (trình độ, năng lực yếu kém, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp hạn chế)”;

4.2. Về oan, sai trong việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can do “Một số VKS áp dụng pháp luật máy móc, chỉ chú ý đến hậu quả thiệt hại xảy ra, chưa đánh giá đúng ý thức chủ quan để phân biệt giữa vi phạm pháp luật về dân sự, kinh tế với hành vi phạm tội, không xem xét lỗi và điều kiện khách quan dẫn đến hành vi vi phạm”;

4.3. Công tác điều tra án không quả tang còn hạn chế, nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng; nguyên nhân do “Quá trình điều tra một số vụ án này thường có sai sót trong khám nghiệm hiện trường như không thu thập đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, giám định không làm rõ những dấu về, chứng cứ quan trọng từ hiện trường, tử thi, dấu vết con người của thủ phạm (dấu chân, vân tay, lông, tóc, sợi,...), không xác định thời gian chết của nạn nhân. Đồng thời, do quá tin vào lời nhận tội của bị can, chưa chú trọng phát hiện thu thập chứng cứ khác ngay từ đầu (lấy lời khai người làm chứng, nhận dạng, đối chất) nên khi bị can phản cung hoặc bị hại thay đổi lời khai thì lúng túng, quá trình điều tra bổ sung, điều tra lại gặp khó khăn”;

4.4. Việc bắt, tạm giữ hình sự sau chuyển xử lý hành chính hoặc trả tự do “Nguyên nhân chủ yếu là một số VKS địa phương chưa làm tốt nhiệm vụ công tố gắn với hoạt động điều tra, còn thụ động hoặc phối hợp nhất trí một chiều với CQĐT”;

“Tại các địa phương để xảy ra một số vụ dùng nhục hình có phần trách nhiệm của VKS chưa sâu sát trong kiểm sát việc bắt, tạm giữ”;

4.5. “Đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự đối với các bị can phạm tội về kinh tế, chức vụ, tham nhũng không đúng khoản 1 và 2 Điều 25 BLHS, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm; nguyên nhân do VKS đã vận dụng sai các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 BLHS để làm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự; có nơi còn vận dụng tình tiết “bị hại rút đơn và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị can” để đình chỉ các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;

4.6. Những tồn tại, hạn chế trong đình chỉ bị can: “Có trường hợp giữa VKS và CQĐT đùn đẩy trách nhiệm trong việc đình chỉ điều tra. Có nơi VKS phát hiện hành vi của bị can không cấu thành tội phạm hoặc không có sự kiện phạm tội nhưng VKS đã không ra quyết định đình chỉ mà trả hồ sơ điều tra bổ sung để yêu cầu CQĐT đình chỉ dẫn đến chậm trả tự do cho bị can. Một số vụ CQĐT đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự không đúng quy định tại khoản 1 Điều 25 BLHS, nhưng VKS không ra quyết định hủy bỏ hoặc yêu cầu hủy bỏ; chỉ đến khi có khiếu nại hoặc VKS cấp trên kiểm tra phát hiện, VKS cấp dưới mới yêu cầu hủy bỏ hoặc ra quyết định hủy bỏ”;                                                                            

4.7. “Nguyên nhân dẫn đến truy tố oan, sai là do VKS nhận định, đánh giá chứng cứ vụ án chưa khách quan, thiếu toàn diện, có những trường hợp chưa phân biệt rõ vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế với hành vi phạm tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; chưa đánh giá đúng ý thức chủ quan, lỗi của người bị hại và các nguyên nhân khách quan khác dẫn đến hành vi phạm pháp”;

4.8.  Nguyên nhân oan, sai trong giai đoạn thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử: “Một bộ phận Kiểm sát viên chưa nắm chắc tình tiết hồ sơ vụ án nên lúng túng, bị động và chưa chủ động tranh tụng; chưa phát hiện được sai sót của Hội đồng xét xử;... có biểu hiện chỉ tập trung vào việc bảo vệ cáo trạng, chưa chủ động làm rõ những vấn đề mới phát sinh tại phiên tòa; chưa căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên tòa để luận tội bị cáo”.

“Hồ sơ vụ án hình sự còn có xu hướng nặng về buộc tội và tại phiên tòa, Kiểm sát viên còn tập trung vào bảo vệ cáo trạng, dẫn tới nguyên tắc ‘suy đoán vô tội’ và quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong một số trường hợp khó bảo đảm tôn trọng thực sự. Quá trình tranh tụng tại nhiều phiên tòa còn hình thức, chủ yếu coi trọng ‘án tại phiên tòa’ từ đó chưa chủ động tranh tụng, tích cực làm rõ các tình tiết phát sinh tại phiên tòa.”

4.9. “Một bộ phận Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chưa nghiêm túc chấp hành pháp luật; yếu kém về năng lực, trình độ, chưa thường xuyên, kịp thời cập nhật kiến thức pháp luật;… quá tin vào lợi nhận tội của bị can, bị cáo; việc thu thập, đánh giá chứng cứ chưa thật đầy đủ, khách quan, toàn diện; chưa bảo đảm đúng nguyên tắc ‘suy đoán vô tội’, từ đó có thái độ đối xử với người bị bắt, bị can, bị cáo như là người có tội; có trường hợp bảo thủ, định kiến trong giải thích và áp dụng pháp luật theo hướng bất lợi cho người bị tình nghi.”

4.10. “Một bộ phận người tiến hành tố tụng còn yếu kém về phẩm chất đạo đức, buông lỏng trách nhiệm công vụ; kể cả một số lãnh đạo cơ quan tố tụng địa phương;… nhìn chung việc xử lý cán bộ mắc sai phạm chea nghiêm; có hiện tượng nể nang, bao che, nhiều trường hợp chỉ xử lý kỷ luật, thuyên chuyển công tác hoặc cho về hưu sớm; việc xử lý hình sự một số trường hợp quá nhẹ gây bức xúc dư luận. Có người vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhưng chỉ khi báo chí dư luận lên tiếng mới được đưa ra xử lý. Bên cạnh đó, người đã gây nên việc làm oan cho người vô tội chưa phải chịu trách nhiệm về vật chất gì, chưa phải bồi hoàn một phần số tiền Nhà nước đã bỏ ra bồi thường cho người bị oan theo quy định pháp luật.”

4.11. “Việc phối hợp liên ngành trong một số trường hợp chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, thiếu sự chế ước, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tư pháp. Một số Viện kiểm sát chưa làm tốt nhiệm vụ công tố gắn với hoạt động điều tra, thực hiện không đầy đủ các thẩm quyền theo luật định; có nơi còn phối hợp nhất trí một chiều với Cơ quan điều tra trong nhận định, đánh giá tính chất vụ án, ít nêu yêu cầu khởi tố, yêu cầu điều tra”

4.12. “Trong một số trường hợp, sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan tố tụng trung ương chưa kịp thời hoặc ý kiến khác nhau như giữa có tội và không có tội, giữa tội danh này và tội danh kia,… gây khó khăn, lúng túng cho địa phương.”

4.13. “Việc phân bổ Kiểm sát viên cho một số VKSND địa phương còn bình quân,chưa thật phù hợp với nhu cầu công việc phải giải quyết, dẫn đến nơi ít việc thì thừa cán bộ, nơi nhiều việc thì thiếu cán bộ, gây lãng phí nguồn lực.”

4.14. “Chất lượng trưng cầu giám định còn hạn chế, như: trưng cầu muộn, hồ sơ trưng cầu không đầy đủ dấu vết, vật mẫu hoặc yêu cầu giám định vượt quá chuyên môn của cơ quan được trưng cầu. Chất lượng giám định cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập,...”.

II. TÌNH HÌNH BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI BỊ OAN

1. Tình hình chung

- Viện kiểm sát các cấp đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; chủ động phối hợp xây dựng Thông tư hướng dẫn thi hành Luật; mỗi cấp kiểm sát đã phân công đầu mối theo dõi, quản lý việc thực hiện trách nhiệm bồi thường. Đa số các đơn yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của Ngành đều được thụ lý giải quyết kịp thời, bảo đảm đúng quy định pháp luật; trong 3 năm tỉ lệ giải quyết đơn bồi thường đạt 88,4%.

2. Tồn tại, hạn chế

- Một VKS địa phương, có dấu hiệu né tránh trách nhiệm bồi thường qua việc đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 25 BLHS.

- Thông tư liên tịch số 05 ngày 02/11/2012 của VKSNDTC, TANDTC, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp có dấu hiệu thu hẹp phạm vi trường hợp bồi thường.

- Một số trường hợp giải quyết bồi thường cho người bị oan vẫn còn chậm, gây bức xúc cho người dân.

- Một số tranh chấp về mức thiệt hại để bồi thường khó thống nhất; một số vụ việc xảy ra đã lâu, hồ sơ, tài liệu thất lạc; việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ bồi thường gặp khó khăn. Kinh phí bồi thường phải qua nhiều trình tự, thủ tục thẩm tra, phê duyệt.

- Khó xác định lỗi và trách nhiệm của công chức, cơ quan gây thiệt để yêu cầu hoàn trả tiền cho Nhà nước.

- Nhiều quy định của Luật TNBTCNN chưa phù hợp, thiếu chặt chẽ, gây nhiều khó khăn trong áp dụng;

- Chưa có cơ quan chuyên tráchgiải quyết bồi thường cho người bị oan  nên việc quản lý, giải quyết thiếu đồng bộ, chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao.

III. XỬ LÝ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, KIỂM SÁT VIÊN ĐỂ XẢY RA OAN, SAI

Trong 3 năm, ngành Kiểm sát đã phát hiện, xem xét xử lý 63lãnh đạo, Kiểm sát viên vi phạm quy chế nghiệp vụ, vi phạm pháp luật, thiếu trách nhiệm trực tiếp hoặc liên quan đến oan, sai trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết án hình sự (32 lãnh đạo, 31 Kiểm sát viên). VKSND tối cao đã phát hiện có VKSND địa phương vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn đến oan sai, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã khởi tố vụ án, bị can đối với 02 Kiểm sát viên để xử lý theo đúng pháp luật.

Tuy nhiên, còn nhiều VKSND địa phương chưa thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Ngành về việc kịp thời kiểm điểm làm rõ  nguyên nhân, trách nhiệm và xử lý nghiêm đối với lãnh đạo đơn vị, Kiểm sát viên được giao thực hành quyền công tố và kiểm sát giải quyết vụ án để xảy ra oan, sai. Có trường hợp vi phạm pháp luật, vi phạm quy chế nghiệp vụ nghiêm trọng những vẫn được đơn vị bố trí làm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát giải quyết án hình sự.

*

*    *

Để bảo đảm tổ chức hiệu quả Hội nghị, các đơn vị cần tập trung nghiên cứu thảo luận sâu, phân tích kỹ tính chất, mức độ của những vi phạm pháp luật, thiếu sót dẫn đến oan, sai; làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân và mỗi cấp kiểm sát; rút ra những bài học kinh nghiệm cho đơn vị và tìm ra các giải pháp thiết thực, góp ý xây dựng Chỉ thị về tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sựđể thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống oan, sai và giải quyết bồi thường cho người bị oan thuộc trách nhiệm của ngành Kiểm sát nhân dân trong thời gian tới. 

Tác giả bài viết: Phòng TKTP&CNTT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập

Giới thiệu

Đăng lúc: 01.01.1970 07:00 - Đã xem:


Thăm dò ý kiến

Theo bạn, việc xây dựng cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị sẽ mang lại kết quả thế nào ?

Rất tốt

Bình thường

Tạm được

Không ý kiến

  • Đang truy cập: 20
  • Khách viếng thăm: 18
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 3988
  • Tháng hiện tại: 3988
  • Tổng lượt truy cập: 9148492