03:52 ICT Thứ sáu, 20/09/2019
“Chào mừng 74 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9 (19/8/1945 – 19/8/2019 và 2/9/1945 – 2/9/2019)”

Trang chủ » Tổ chức » Tin tức » Tin từ Viện kiểm sát Quảng Trị

Thực trạng và giải pháp: Nâng cao chất lượng Cáo trạng, Quyết định truy tố trong ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng trị

Thứ hai - 13/05/2019 10:33

     Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 28/12/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2019; Chương trình công tác thanh tra năm 2019 của Thanh tra Viện kiểm sát nhân dântối cao;Chương trình, Kế hoạch công tác thanh tra năm 2019 của Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị; Thông báo số 1416 ngày 01/10/2018 về ý kiến chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:“Yêu cầu các đơn vị trực thuộc và Viện kiểm sát nhân dâncấp huyện gửi cho Thanh tra các văn bản tố tụng mới ban hành và bản sao các quyết định, bản án của các Cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn”.Từ đó cho đến nay, Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thường xuyên nhận được cáo trạng do các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gửi đến.Qua nghiên cứu, Thanh tra Viện kiểm sát nhân dântỉnh nhận thấy: Nhìn chung, các đơn vị đã chấp hành nghiêm túc chỉ đạo của Viện trưởng tại thông báo số 1416 ngày 01/10/2018, hầu hết các Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và đơn vị trực thuộc xây dựng Cáo trạng rất thận trọng, chặt chẽ, có chất lượng, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, không để xảy ra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Bên cạnh đó, việc ban hành cáo trạng của một số Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và đơn vị trực thuộc vẫncòn để xảy ra nhữnghạn chế, thiếu sót nhất định, cần được thông báo rút kinh nghiệm nhằm bảo đảm tính thống nhất chung, góp phần  nâng cao vị trí, vai trò của Ngành Kiểm sát trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tố tụng  hình sự.

     1.HẠN CHẾ

     1.1. Hạn chế trong việc  ký hiệu văn bản

Theo mẫu số 144/HS tại Danh mục mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố ( Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09 tháng 01 năm 2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao) thì sau phần ký hiệu CT-VKS phải ký hiệu viết tắt tên Viện kiểm sát ban hành, đơn vị phụ trách ( nếu có). Qua nghiên cứu, thấy việc ký hiệu văn bản tố tụng rất tùy tiện, cùng một loại văn bản nhưng ký hiệu khác nhau, có đơn vị không ký hiệu hoặc ký hiệu chưa đầy đủ, làm cho việc ban hành văn bản tố tụng của Ngành chưa được thống nhất.

     1.2. Thiếu, thừa câu chuyển tiếp trước khi kết luận hoặc quyết định.

Tại mẫu số 144/HS trước khi kết luận về hành vi phạm tội của bị can phải có câu chuyển tiếp “Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên”, sau đó quyết định việc truy tố chứ không nêu lại thêm một lần nữa, nhưng có một số đơn vị không nêu câu chuyển tiếp trước lúc kết luận, hoặc đã nêu rồi lại nêu thêm một lần nữa trước khi phần quyết định.

     1.3. Chưa phản ánh rõ số tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Theo hướng dẫn tại mẫu số 144/HS sau phần nội dung của quyết định truy tố, phải nêu rõ: “2. Kèm theo Cáo trạng có: Hồ sơ vụ án gồm có... tập, bằng ... tờ; đánh số thứ tự từ 01 đến...”. Nội dung này, trong nhiều bản Cáo trạng  để trống  không đúng mẫu hướng dẫn.

     1.4. Phần nêu vềcha mẹ, anh chị em ruộtkhông đúng mẫu.

Theo hướng dẫn tại mẫu số 144/HS phần này chỉ cần nêu: “Họ và tên cha, mẹ (sinh năm, sống hay chết), anh chị em ruột, vợ chồng, có mấy con, lớn nhất mấy tuổi, nhỏ nhất mấy tuổi”. Nhưng một số đơn vị trình bày phần này tại  quá chi tiết, dài dòng (như nêu họ tên, ngày tháng năm sinh của tất cả các thành viên trong gia đình) . Việc liệt kê thứ tự về họ, tên, ngày, tháng năm sinh của tất cả các thành viên trong gia đình là không cần thiết. Mục này chỉ cần nêu gia đình có mấy người con, bị can là con thứ mấy; có mấy người con ( lớn nhất sinh năm mấy/ nhỏ nhất sinh năm mấy) là đủ.

     1.5. Phần ghi nơi nhận của Bản cáo trạng chưa đầy đủ.

Theo hướng dẫn tại mẫu số 144/HS và quy định tại Điều 244 BLTTHS 2015:“Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án. Như vậy, việc gửi cáo trạng đến Tòa án là bắt buộc và trên thực tế khi chuyển hồ sơ đến Tòa án phải kèm theo Bản cáo trạng. Do vậy, tại phần nơi nhận dòng đầu tiên phải ghi Tòa án, nhưng một số bảo cáo trạng phần nơi nhận không ghi Tòa án có thẩm quyền xét xử là chưa đầy đủ.

     1.6.Áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chưa chính xác.

Một số Cáo trạng truy tố bị can về các tội chiếm đoạt tài sản. Theo Cáo trạng, bị can thực hiện hành vi chiếm đoạt nhiều lần và  mỗi lần giá trị tài sản chiếm đoạt được đều trên mức khởi điểm quy định tại điều luật. Do tổng số tiền bị can chiếm đoạt đủ căn cứ để tăng nặng định khung hình phạt, nên Cáo trạng truy tố bị can về các khoản tăng nặng định khung tương ứng. Tuy nhiên, Cáo trạng không áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS 2015 là chưa đánh giá, xem xét đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị can.

Một số Cáo trạng đã xem tình tiết “ Tái phạm” là dấu hiệu định tội rồi, nhưng khi xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, lại áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS ( Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng).

Một số Cáo trạng áp dụng đồng thời 02 tình tiết giảm nhẹ:“ Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tình thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”  và tình tiết giảm nhẹ “ Bị hại cũng có lỗi” quy định tại khoản 1,2 điều 51 BLHS là không đúng quy định của pháp luật.

     1.7. Kết luận về hành vi phạm tội của bị can chưa được đầy đủ, rõ ràng.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Mẫu số 144/HS, phần này nêu ngắn gọnthời gian, địa điểm, động cơ, mục đích hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra. Tuy nhiên, có đơn vị nêu quá ngắn, có đơn vị thì nêu quá dài, thậm chí kết luận chưa sát với nội dung. Ví dụ: Bị can bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc với số tiền < 5.0000.000 đồng nhưng do bị can đã có tiền án về tội “Đánh bạc”, nên Cáo trạng truy tố bị can về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Đều 321 BLHS. Cáo trạng không nói rõ lý do vì sao bị can đánh bạc dưới 5.000.000 đồng mà vẫn bị truy tố là thiếu sót. Trong trường hợp này, tại phần kết luận của cáo trạng phải có câu khẳng định: “Tuy số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng do bị can đã có tiền án về tội “Đánh bạc” nên đủ yếu tố cấu thành tội“Đánh bạc”.

     1.8. Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn ban hành không đúng mẫu quy định.

Một số vụ án hình sự được áp dụng giải quyết theo thủ tục rút gọn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành điều tra, truy tố và xét xử đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã được quy định tại khoản 2 Điều 461 BLTTHS và Hướng dẫn tại mẫu số 165/HS của VKSND tối cao, nhưng vẫn có một số đơn vị ban hành chưa đúng cả về hình thức và nội dung, chưa phân biệt rõ mục đích, yêu cầu của Bản cáo trạng và Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; đặc biệt phần nội dung của quyết định truy tố một số đơn vị chưa tóm tắt được hành vi phạm tội của bị can mà nêu quá chi tiếtdiễn biến hành vi phạm tội như cáo trạng dẫn đến Quyết định truy tố quá dài không cần thiết.

     1.9. Chưa thống nhất trong việc trích dẫn điều luật.

Việc trích dẫn điều luật truy tố trong bản Cáo trạng là rất quan trọng, nhưng chưa được Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình hướng dẫn nghiệp vụ cho Viện kiểm sát nhân dân địa phương, một số Vụ nghiệp vụ ( Vụ 1, Vụ 3) Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có thông báo rút kinh nghiệm về việc trích dẫn điều luật, như: Thông báo số811/TB-VKSTC-V1C ngày 18/11/2014 của Vụ 1C  rút kinh nghiệm về xây dựng Cáo trạng của Viện kiểm sát; Công văn số4258/VKSTC-V1C(P3) ngày 28/11/2013 của Viện kiểm sát nhân dân  tối cao về việc rút kinh nghiệm một số tồn tại, hạn chế về báo cáo, thỉnh thị và ban hành Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh miền Trung.Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 243Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015đãquy định:"Phần kết luận của bản Cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng”. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã có hướng dẫn Mẫu số 144 (Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2017),tại phần kết luận của Cáo trạng phải khẳng định hành vi của bị canđã phạm tội gì, theo quy định tại điều, khoản, điểm nào của Bộ luật hình sự (lưu ý trích dẫn điều luật). Từ những quy định, hướng dẫn trên việc xây dựng cáo trạng và trích dẫn điều luật truy tố của Viện kiểm sát đã có sự thống nhất tương đối. Trong thời gian qua, trên cơ sở tổng hợp, nghiên cứu Cáo trạng do Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và các đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ban hành, thấy vẫn còn có sự khác biệt nhất định, thể hiện ở các cách trích dẫn sau:

     - Dạng thứ nhất: Chỉ phạm một tội nhưng trích dẫn hết các hành vi của tội ghép.

     Ví dụ: Cáo trạng truy tố bị can về tội“Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 191 BLHS. Tại phần trích dẫn điều luật, Cáo trạng trích dẫn luôn cả tội tàng trữ “ Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm...”.

     - Dạng thứ hai: Chỉ phạm vào một cấu thành cơ bản trong điều luật nhưng trích dẫn hết các cấu thành.

Ví dụ:Bị can trộm cắp tài sản có giá trị 8.000.000 đồng. Cáo trạng truy tố bị can về tội“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS ( Tài sản chiếm đoạt có giá trị > 2.000.000 đồng, < 50.000.000 đồng). Tại phần trích dẫn điều luật, Cáo trạng trích dẫn thêm nội dung “hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây”.

     - Dạng thứ ba: Chỉ truy tố bị can về tội quy định tại khoản 1 của Điều luật, nhưng trích dẫn luôn cả khoản quy định về hình phạt bổ sung

Ví dụ:Cáo trạng truy tố bị can về tội “Vận chuyển hàng cấm qua biên giới” theo khoản 1 Điều 189 BLHS. Ngoài việc trích dẫn điều luật truy  tố, Cáo trạng còn trích dẫn thêm khoản 4 của điều luật: “4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Có thể nói, việc “trích dẫn điều luật” trong Cáo trạng theo các cách đều không làm ảnh hưởng đến Quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Nhưng với phân tích, so sánh trên, thiết nghĩ phải thống nhất lại cách trích dẫn điều luật để đảm bảo tính nghiêm minh, tập trung và thống nhất trong Ngành.

Từ những hạn chế trong việc trích dẫn điều luật truy tố nêu trên, Thanh traViện kiểm sát nhân dântỉnh đã tham mưu cho Lãnh đạo Viện kiến nghị Viện kiểm sát nhân dântối cao có văn bản hướng dẫn chính thức để việc trích dẫn điều luật trong Cáo trạng, Quyết định truy tố được thống nhất trong toàn Ngành.

     2. GIẢI PHÁP

Trong lúc, chưa có hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trên cơ sở quy định của Bộ luật TTHS, Mẫu số 144/HS và một số Thông báo rút kinh nghệm của vụ nghiệp vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban hành cáo trạng, Thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đưa ra một số giải pháp cụ thể trong việc xây dựng và ban hành cáo trạng, quyết định truy tố như sau:

- Trước hết, cần phải tuyệt đối tuân thủ đầy đủ và đúng quy định tại Điều 243 Điều 461 BLTTHS năm 2015;

- Bám sát mẫu hướng dẫn số 144/HS ( Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao).

- Nghiên cứu kỹ để vận dụng có hiệu quả Thông báo rút kinh nghiệm số: 811/TB-VKSTC-V1C ngày 18/11/2014 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về xây dựng Cáo trạng của Viện kiểm sát, Công văn số: 4258/VKSTC-V1C(P3) ngày 28/11/2013 của Viện kiểm sát nhân dântối cao về việc rút kinh nghiệm một số tồn tại, hạn chế về báo cáo, thỉnh thị và ban hành Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân  các tỉnh miền Trung; Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ công an – Bộ quốc phòng ( quy định phối hợp gữa Cơ quan điều tra, và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự).

- Đánh giá chính xác, khách quan các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nâng cao trình độ và khả năng phân tích, tổng hợp…đối chiếu với nội dung Kết luận điều tra để xem xét những nội dung nào đã được kết luận những vấn đề nào chưa rõ cần tiếp tục điều tra thì nhất thiết phải đợc điều tra làm rõ để tự tin trong việc xây dựng Cáo trạng.

- Xác định chính xác về nội dung, tránh viết dài dòng lặp đi lặp lại và sao chép nội dung của kết luận điều tra.

- Đối với phần kết luận của Cáo trạng phải nêu ngắn gọn thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra; kết luận rõ hành vi đó đã phạm vào tội gì, được quy định tại điều, khoản, điểm nào của Bộ luật hình sự được áp dụng.

Trong thời gian tới, thanh tra Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp với các phòng nghiệp vụ trong việc nghiên cứu, rà soát, kiểm tra để phát hiện  những hạn  chế, vi phạm trong việc ban hành cáo trạng, quyết định truy tố nhằm kịp thời tham mưu cho Viện trưởng trong công tác quản lý, chỉ đạo điều hành về lĩnh thực hình sự.

Tác giả bài viết: Lê Quang Anh – Thanh tra VKSND tỉnh Quảng Trị

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn