04:52 ICT Thứ ba, 09/03/2021
MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN TÂN SỬU 2021! TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN PHẤN ĐẤU SỚM ĐƯA NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG THÀNH HIỆN THỰC CUỘC SỐNG! ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM! NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM! CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SỐNG MÃI TRONG SỰ NGHIỆP CỦA CHÚNG TA! .

Trang chủ » Tổ chức » Tin tức » Tin từ Viện kiểm sát Quảng Trị

Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm án dân sự bị cấp phúc thẩm xử hủy án

Thứ ba - 27/08/2013 13:52

Vừa qua, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành thông báo rút kinh nghiệm những vụ án dân sự bị cấp phúc thẩm xử hủy án; Trang tin điện tử VKSND tối cao trích đăng để bạn đọc tham khảo:

1/ Vụ kiện “Tranh chấp tài sản chung” giữa nguyên đơn: Trương Hiếu Nghĩa, sinh năm 1967; Bị đơn: Trương Thị Hạnh Tươi, sinh năm 1973.

Nội dung: Theo án sơ thẩm nguồn gốc căn nhà số 137/55 đường Cao Xuân Dục là tài sản chung của Đặng Văn Ngọc và bà Nguyễn Thị Đầm. Ông bà có 06 người con gồm Nguyễn Thị Liên, Trương Hiếu Nghĩa, Trương Thị Bích Nga, Trương Thị Hạnh Tươi, Đặng Thị Chính. Năm 1983 bà Đầm chết không để lại di chúc, năm 2002 ông Ngọc chết cũng không để lại di chúc. Căn nhà trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu và quyền sử dụng đất năm 2004 do ông Nghĩa đứng tên đại diện các đồng thừa kế. Hiện nay bà Trương Thị Hạnh Tươi cùng chồng và các con đang quản lý sử dụng , nay ông Nghĩa yêu cầu chia tài sản chung và chia làm 06 phần cho 06 người con của Đặng Văn Ngọc và bà Nguyễn Thị Đầm (trong đó Nguyễn Thị Liên, Trương Thị Bích Nga, Đặng Thị Chính, Trương Văn Hiền đồng ý cho ông Nghĩa phần thừa kế của mình được hưởng).

Bà Trương Thị Hạnh Tươi trình bày sau khi mẹ Nguyễn Thị Đầm qua đời thì cha Đặng Văn Ngọc chung sống với bà Nguyễn Ngọc Nở và có 03 người con là Đặng Thị Minh Phú, Đặng Văn Vinh chết năm 2007 không có vợ con, Đặng Thị Mỹ Hạnh chết năm 2008 không có chồng con. Việc ông Nghĩa yêu cầu chia thừa kế bà cũng đồng ý nhưng bà Tươi có đơn phản tố yêu cầu ông Nghĩa phải trả 100.000.000 đồng tiền mà trước đây ông Nghĩa thế chấp nhà vay tiền ngân hàng không trả bà phải trả để lấy giấy tờ nhà về và yêu cầu các đồng thừa kế hỗ trợ 30.000.000 đồng tiền sửa chữa và bảo quản nhà.

 Bà Nguyễn Ngọc Nở và Đặng Thị Minh Phú có đơn yêu cầu độc lập xin hưởng một phần di sản của ông Ngọc để lại.

Ngày 29/5/2012 ông Trương hiếu Nghĩa có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện (BL số 159).

Tại bản án sơ thẩm số 1228/2012/STDS ngày 21/8/2012 của Tòa án nhân dân . . . quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trương Hiếu Nghĩa xác định căn nhà số 137/55 đường Cao Xuân Dục ….. . trị giá 648.931.800 đồng sau khi trừ chi phí sửa chữa 30.000.000 đồng còn lại 654.931.800 đồng.

 Phần của bà Đầm sau khi trừ chi phí sửa chữa được chia làm 07 phần: Ông Ngọc, ông Nghĩa, bà Liên, bà Tươi, bà Nga, bà Chính và ông Hiền mỗi phần 46.780.000 đồng.

Phần của ông Ngọc sau khi trừ chi phí sửa nhà được chia làm 10 phần: ông Nghĩa, bà Liên, bà Tươi, bà Nga, bà Chính, ông Hiền, bà Nở, bà Phú, ông Vinh, bà Hạnh mỗi phần 37.424.674 đồng.

Ông Nghĩa được sở hữu căn nhà sau khi đã thi hành xong các khoản tiền cho bà Tươi, bà Nở, bà Phú.

Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Hạnh buộc ông Nghĩa trả tiền nợ ngân hàng và tiền sửa nhà 130.000.000 đồng.

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc Nở và Đặng Thị Minh Phú có  yêu cầu  độc lập xin chia tài sản chung phần của ông Ngọc.

Ngày 14/8/2012 bà Trương Thị Hạnh Tươi có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 05/02/2013 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao xét xử phúc thẩm: Viện phúc thẩm 3 đề nghị hủy toàn bộ án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tòa tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

2/ Vụ kiện “Tranh chấp di sản thừa kế” giữa:

Nguyên đơn: bà Trần Thị Kim Loan, sinh năm 1948.

Bị đơn: ông Trần Văn Miên, sinh năm 1962.

Nội dung: Theo án sơ thẩm ông Trần Văn Lẻo sinh năm 1915 (chết năm 1990) có 03 người vợ gồm:

Bà Nguyễn Thị Tiểng (chết năm 2004) có 08 người con chết lúc nhỏ 04 người còn lại 04 người Trần Kim Loan nguyên đơn, Trần Văn Tới, Trần Thị Minh Tâm định cư ở nước ngoài, Trần Bình Dương.

 - Bà Nguyễn Thị Nết (chết năm 2005) có 02 người con Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Thị Nước (bà Nước chết năm 2011) có chồng và 05 người con.

- Bà Nguyễn Thị Tư có 08 người con chết lúc nhỏ 01 người còn lại 07 người Trần Thị Hồng, Trần Văn Hải, Trần Văn Miên (bị đơn) Trần Thị Thanh, Trẩn Văn Mười, Trần Văn Sang, Trần Thị Hoa.

Ông Lẻo không có tài sản chung với bà Nguyễn Thị Nết và bà Nguyễn Thị Tư.

Ông Lẻo và bà Tiểng có tài sản chung là nhà (hiện không còn), cây lâu năm và đất diện tích 3.126,7m2 ngoài ra không còn tài sản nào khác.

Toàn bộ tài sản trên do ông Trần Văn Miên ở trên đất và đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có ý kiến của các thừa kế. Năm 2004 ông Miên bán cho bà Đinh Thị Lan và ông Bùi Văn Tỉnh 240m2 để xây nhà hiện ông Miên đang ở, bà Loan không yêu cầu đưa bà Đinh Thị Lan và ông Bùi Văn Tỉnh vào tham gia tố tụng vì không tranh chấp diện tích đã bán.

Tại bản án sơ thẩm số 08/2012/DSST ngày 24/9/2012 của Tòa án nhân dân . . . quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Kim Loan về việc yêu cầu ông Trần Văn Miên chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Văn Miên ngày 14/4/2003.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Từ ngày 02/10/2012 đến 15/02/2012 bà Trần Kim Loan, ông Trần Văn Hải, ông Trần Văn Sang, ông Nguyễn Văn Đức, ông Trần Bình Dương, ông Trần Văn Mười cùng làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 14/3/2013 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao xét xử phúc thẩm: Viện phúc thẩm 3 đề nghị hủy toàn bộ án sơ thẩm do chưa thu thập đầy đủ chứng cứ. Tòa tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

3/ Vụ kiện “Tranh chấp Đòi tài sản và yêu cầu hủy bỏ quyết định kê biên tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Đỗ Thị Mộng Diệu, sinh năm 1980.

Bị đơn: Đỗ Thị Mộng Diễm, sinh năm 1978.

Nội dung: Theo án sơ thẩm chị Đỗ Thị Mộng Diệu là Việt kiều định cư ở Úc, chị có nguyện vọng trở về Việt Nam, nên tháng 5/2006 chị Diệu nhờ chị ruột là Trần Thị Mộng Diễm mua một phần đất nền nhà và đứng tên dùm, Chị Diễm mua phần đất 246m2 trị gía 120.000.000 đồng, chị Diệu gửi về 12.000 đô la Úc quy đổi ra tiền Việt Nam trên 120.000.000 đồng. Ngày 01/12/2006 chị Diễm làm giấy xác nhận đứng tên dùm tài sản là quyền sử dụng đất có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã. Tháng 01/2007 chị Diệu về Việt Nam và thuê anh Nguyễn Minh Thuyết xây dựng một căn nhà kiên cố trên đất trị giá 250.000.000 đồng, chính chị Diệu là người trẻ tiền.

Năm 2009 chị Diệu kết hôn với anh Võ Thanh Bình, nên yêu cầu chị Diễm giao nhà đất cho anh Bình tạm thời đứng tên.

Tại quyết định hòa giải thành số 07/2011/QĐST-DS ngày 09/4/2011 đã công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, chấp nhận yêu cầu của chị Diệu, sau đó chị Diệu và anh Bình đến cơ quan chức năng để làm thủ tục sang tên anh Bình thì mới biết nhà đất này đã bị Chi cục Thi hành án có quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, nên tiếp tục làm đơn khởi kiện.

Tại bản án sơ thẩm số 22/STDS ngày 26/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh . . quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Mộng Diệu.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Thị Mộng Diễm giao trả nhà cho chị Diệu làm thủ tục chuyển quyền sử dụng cho anh Võ Thanh Bình đứng tên theo ủy quyền của chị Diệu.

Chị Diệu và anh Bình có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục quyền quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật.

Hủy bỏ quyết định kê biên số 32/QĐ-THA ngày 10/6/2011 của Chi Cục thi hành án dân sự.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 11/10/2012 Chi Cục thi hành án dân sự làm đơn kháng cáo đề nghị không giao quyền sử dụng đất do Đỗ Thị Mộng Diễm đứng tên cho chị Đỗ Thị Mộng Diệu nhằm tẩu tán tài sản và giữ nguyên quyết định kê biên số 32/QĐ-THA ngày 10/6/2011 của Chi Cục thi hành án dân sự.

Ngày 20/3/2013 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao xét xử phúc thẩm: Viện phúc thẩm 3 đề nghị hủy toàn bộ án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tòa tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo quy định của pháp luật.

Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 Xác định không đúng thời hiệu khởi kiên:

Vụ án nguyên đơn Trần Thị Kim Loan: Án sơ thẩm xác định hết thời hiệu khởi kiện vì cho rằng ông Lẻo chết năm 1990, đến năm 2009 nguyên đơn mới có đơn khởi kiện chia thừa kế nên thời hiệu khởi kiện “Chia thừa kế đối với một số cây lâu năm” của ông Lẻo đã hết là không có căn cứ.

Bởi vì, các đương sự có lời khai trong hồ sơ đều xác định bà Trần Thị Minh Tâm đi Mỹ năm 1985. Theo Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH 11 ngày 11/7/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nguyên đơn khởi kiện năm 2009 thì còn thời hiệu khởi kiện.

Xác định địa vị tham gia tố tụng:

Sau khi làm đơn khởi kiện đến ngày 29/5/2012 ông Trương Hiếu Nghĩa có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm phải đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự đối với yêu cầu đã rút của ông Trương Hiếu Nghĩa theo quy định tại Điều 219 khoản 1 Bộ luật tố tụng dân sự và xác định lại địa vị tố tụng của đương sự đưa bà Trương Thị Hạnh Tươi là nguyên đơn, ông Trương Hiếu Nghĩa là bị đơn, bà Nguyễn Ngọc Nở và Đặng Thị Minh Phú là người có quyền lợi liên quan. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn giữ nguyên địa vị tố tụng của đương sự là không đúng quy định của pháp luật (Điều 219 khoản 1 Bộ luật tố tụng dân sự).

Bỏ lọt người tham gia tố tụng:

 Trong vụ án Đỗ Thị Mộng Diệu: Cấp sơ thẩm đã bỏ lọt người tham gia tố tụng vì chị Diệu khởi kiện yêu cầu chị Diễm trả nhà đất diện tích 246m2 thửa 197, tờ bản đồ số 22. Nhưng nhà đất này đã bị Chi cục Thi hành án quyết định kê biên số 32/QĐ-THA ngày 10/6/2011 để thi hành nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bích Thương trong vụ án mà chị Bích Thương kiện chị Diễm. Khi giải quyết vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chị Nguyễn Thị Bích Thương vào tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vi phạm khoản 4 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự.

 

Thu thập chứng cứ không đầy đủ theo quy định tại Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự:

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Trương Hiếu Nghĩa xác nhận lúc kê khai di sản thừa kế do không hiểu biết pháp luật, nên ông chỉ kê khai 03 người con là Trương Hiếu Nghĩa, Trương Thị Hạnh Tươi và Trương Bích Nga, sau đó để tiện việc vay tiền ngân hàng, nên bà Nga và bà Tươi đã làm hợp đồng tặng cho nhà chứ ông Nghĩa không được quyền sở hữu. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét chứng cứ này để giải quyết mà chỉ xét bà Tươi và bà Nga đã ra công chứng ký hợp đồng tặng cho nhà để không chấp nhận yêu cầu được chia tài sản chung của bà Tươi là không đảm bảo quyền lợi của bà Tươi.

Về việc chia di sản cho người đã chết Đặng Văn Vinh chết năm 2007 không có vợ con, Đặng Thị Mỹ Hạnh chết năm 2008 không có chồng con là không đúng quy định tại Điều 635 Bộ luật dân sự quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”.

Tương tự vụ án Trần Thị Kim Loan cấp sơ thẩm xác định:

- Về phần đất: Chính ông Miên cũng thừa nhận là do ông Lẻo và bà Tiểng mua, thừa nhận ông Lẻo và ông Miên cùng canh tác, trước khi ông Lẻo chết thì do ông Lẻo đóng thuế đất, năm 1990 ông Lẻo chết thì do ông Miên đóng thuế đất. Năm 2000 ông Miên kê khai đăng ký ghi là đất thừa kế của cha mẹ. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh việc UBND cấp quyền sử dụng đất cho hộ ông Miên trong trường hợp nào, nếu là đất thừa kế thì phải có ý kiến của các hàng thừa kế. Mặt khác khi còn sống ông Lẻo có kê khai đăng ký quyền sử dụng đất hay không vì trong hồ sơ có bản photo ông kê khai đăng ký quyền sử dụng đất 1.500m2.

 -Về cây trái trên đất: Các đương sự cũng thừa nhận ông Lẻo có trồng một số cây trái trên đất, tài sản gắn liền với đất. Tòa án cấp sơ thẩm không xác định số cây, trồng trên diện tích đất là bao nhiêu nên cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét.

-Về căn nhà: Theo bà Tư là vợ của ông Lẻo khai ông Lẻo có cất một căn nhà mái ngói âm dương, nền đất, sau năm 1987 ông Lẻo về An Thạnh sinh sống để lại nhà cho ông Miên sử dụng, sau này ông Miên mới xây lại căn nhà mới. Cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc ông Lẻo  trước đó có cất nhà hay không để làm cơ sở giải quyết vụ kiện đúng pháp luật.

Từ các vụ án trên nhận thấy: Viện kiểm sát cấp tỉnh chưa thật sự chú trọng đến công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực án dân sự. Vì các vụ án trên đều có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, trong quá trình kiểm sát việc thụ lý, kiểm sát xét xử và kiểm sát bản án. Nhưng không kịp thời phát hiện vi phạm nghiêm trọng của Tòa án để kiến nghị yêu cầu tòa án cấp sơ thẩm khắc phục và kháng nghị phúc thẩm kịp thời theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự, dẫn đến án phúc thẩm phải tuyên hủy án để  giải quyết vụ kiện đúng pháp luật.

Tác giả bài viết: Thu Hương

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập

Giới thiệu

Đăng lúc: 01.01.1970 07:00 - Đã xem:


Thăm dò ý kiến

Theo bạn, việc xây dựng cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị sẽ mang lại kết quả thế nào ?

Rất tốt

Bình thường

Tạm được

Không ý kiến

  • Đang truy cập: 8
  • Khách viếng thăm: 7
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 861
  • Tháng hiện tại: 66477
  • Tổng lượt truy cập: 11735607