06:01 ICT Thứ ba, 15/10/2019
“Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!” "Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng"

Trang chủ » Tổ chức » Tin tức » Thông tin nghiệp vụ

Một số ý kiến về hoàn thiện chế định “Đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh sự, quyền lợi của người bị oan” trong BLTTHS

Thứ sáu - 13/09/2013 09:57

Nguồn TCKS số 05/2012

Các nguyên tắc cơ bản quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) hiện hành là những tư tưởng, quan điểm có tính chất chủ đạo, định hướng đối với toàn bộ hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Nội dung các nguyên tắc đó được thể hiện trong các chế định cụ thể của pháp luật TTHS và do vậy, việc hoàn thiện các nguyên tắc không chỉ là việc sửa đổi, bổ sung điều luật quy định nguyên tắc mà còn là sự hoàn thiện các chế định phản ánh nội dung nguyên tắc đó. Trong BLTTHS năm 2003, các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Chương 2 với 30 nguyên tắc. Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan được quy định tại Điều 29 BLTTHS.

Nếu như phần lớn các nguyên tắc cơ bản có nội hàm được phản ánh ngay trong các chế định của BLTTHS thì nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan lại thể hiện trực tiếp trong các văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, tính chất chủ đạo, vai trò định hướng của nguyên tắc, với tính chất là một nguyên tắc cơ bản của TTHS vẫn được thể hiện đậm nét trong từng quy phạm pháp luật TTHS. Ở đó, vai trò của nguyên tắc được phát huy qua việc tạo ra ranh giới buộc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải luôn thận trọng, luôn đảm bảo tính có căn cứ trong việc ban hành và thực hiện các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng để tránh việc điều tra, truy tố, xét xử oan, sai.

Theo Điều 29 BLTTHS, nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan được quy định như sau: “Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.” Như vậy, nội dung của nguyên tắc tại Điều 29 BLTTHS thể hiện trên hai khía cạnh:

Một là, ghi nhận quyền của người bị oan. Người được xác định đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan có quyền được bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần và thiệt hại vật chất, được phục hồi danh dự, quyền lợi bị mất mát do việc  truy cứu trách nhiệm hình sự oan gây ra.

Hai là, quy định trách nhiệm của cơ quan đã làm oan trong việc bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan. Đó là cơ chế nhằm đảm bảo quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan được thực hiện. Cùng với đó, người đã gây thiệt hại cho người bị oan có trách nhiệm phải bồi hoàn cho cơ quan đã tiến hành việc bồi thường.

Những nội dung nói trên của nguyên tắc được thể hiện chi tiết trong các quy định về bồi thường cho người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010. Theo đó, chế định này đưa ra các trường hợp được bồi thường và các trường hợp không được bồi thường. Các trường hợp được bồi thường bao gồm: Trường hợp thứ nhất là, người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Trường hợp thứ hai là, người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp thứ ba là, người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp thứ tư là, người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam; người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành.

Thiệt hại được bồi thường bao gồm tổn thất về tinh thần và thiệt hại về vật chất. Tổn thất về tinh thần được xác định là hai ngày lương tối thiểu cho một ngày người đó bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; ba ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; ba trăm sáu mươi tháng lương tối thiểu trong trường hợp người bị thiệt hại chết; không quá ba mươi tháng lương tối thiểu, căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm; một ngày lương tối thiểu cho mỗi ngày bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo. Thiệt hại về vật chất được bồi thường bao gồm các khoản thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết, thiệt hại về vật chất do người đó bị tổn hại về sức khoẻ.

Cùng với việc được bồi thường thiệt hại, người bị oan còn được khôi phục danh dự dưới hình thức công khai xin lỗi, cải chính trực tiếp và đăng báo, nếu có yêu cầu của người bị oan hoặc đại diện hợp pháp của họ.

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể phạm vi trách nhiệm bồi thường của các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự. Cơ quan được xác định có trách nhiệm bồi thường phải bồi thường cả những thiệt hại đã phát sinh trong các giai đoạn tố tụng trước đó, thực hiện việc xin lỗi, cải chính đối với người bị oan. Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp nhiều người thi hành công vụ cùng gây ra thiệt hại thì những người này có nghĩa vụ liên đới trong việc hoàn trả.

Như vậy, từ những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng hình sự, dưới góc độ thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan, có thể nhận thấy một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, khái niệm “người bị oan” hay nói cách khác, những trường hợp được coi là bị oan trong TTHS hiện chưa được quy định cụ thể hoặc giải thích thống nhất. Chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng hình sự chỉ quy định các trường hợp được bồi thường thiệt hại và các trường hợp không được bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, ngay trong quy định này cũng chứa đựng sự bất cập khi còn có những cách nhận thức khác nhau về dấu hiệu “không thực hiện hành vi phạm tội”- căn cứ để xác định thuộc diện được bồi thường trong đa số các trường hợp. Trong khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sử dụng khái niệm “người bị thiệt hại” để chỉ chung các đối tượng được bồi thường, việc chưa đưa ra cách giải thích về “người bị oan” theo quy định tại Điều 29 BLTTHS vừa gây khó khăn trong việc áp dụng nguyên tắc, vừa dễ dẫn tới sự nhầm lẫn giữa đối tượng được bồi thường thiệt hại theo chế định này với đối tượng được bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra quy định tại Điều 30 BLTTHS.

Thứ hai, nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan mới chỉ được thể hiện trên phương diện bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, việc phục hồi quyền lợi hiện vẫn còn bị bỏ ngỏ. Các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan (Nghị quyết 388 năm 2003 (đã hết hiệu lực), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010) chưa quy định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phục hồi quyền lợi cho người bị oan. Mặt khác, trên thực tế, việc phục hồi quyền lợi cho người bị oan không chỉ phụ thuộc vào sự chủ động của cơ quan có trách nhiệm bồi thường, đặc biệt trong việc phục hồi các quyền lợi về chính trị, quyền lợi về tinh thần. Trong việc khôi phục các quyền lợi cho người bị thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường chỉ có thể phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan mà trong nhiều trường hợp, chính các cơ quan, tổ chức này mới có vai trò quyết định đối với việc phục hồi các quyền lợi đó.

Từ những phân tích trên cho thấy, nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan cần phải được hoàn thiện theo hướng, quy định cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan bên cạnh việc phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự còn có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan phục hồi quyền lợi cho người bị oan. Mặt khác, chế định về bồi thường cho người bị thiệt hại trong tố tụng hình sự trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng cần bổ sung quy định về trách nhiệm phục hồi quyền lợi cho người bị oan của cơ quan phải bồi thường. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn cụ thể về “người bị oan” trong tố tụng hình sự; như vậy mới có thể phát huy hiệu lực của nguyên tắc này một cách trọn vẹn trên thực tế và có được sự tương thích khi thể hiện nội dung của nguyên tắc trong các văn bản pháp luật liên quan.

Thạc sĩ BÙI THỊ HẠNH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn