18:18 ICT Thứ tư, 19/06/2019
“Lập thành tích chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày lập lại tỉnh Quảng Trị và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị”

Trang chủ » Tổ chức » Kiểm sát viên » Trao đổi nghiệp vụ

Cần nhận thức đúng để áp dụng chính xác tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự " phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già", quy định tại Điểm H Khoản 1 Điều 48 BLHS

Thứ sáu - 24/10/2014 10:38

Trẻ em, phụ nữ có thai, người già là chủ thể được xã hội đặc biệt quan tâm bảo vệ, thể hiện qua chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, được quy định tại nhiều văn bản pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự. Theo quy định của Bộ luật hình sự (BLHS), phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già vừa là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều điểm h khoản 1 Điều 48, vừa là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt quy định ở một số tội phạm cụ thể. Tuy nhiên, về nhận thức lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, việc hiểu và áp dụng tình tiết này để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội trong những trường hợp phạm tội cụ thể còn những quan điểm khác nhau. Với bài viết này, chúng tôi trao đổi và nêu ra quan điểm của mình về áp dụng tình tiết phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già với tính chất là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS.

1. Trẻ em, người già, phụ nữ có thai là chủ thể được quan tâm, ưu tiên, bảo vệ đặc biệt

Từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng và sự quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách quan tâm, ưu tiên và bảo vệ đặc biệt đối với trẻ em, phụ nữ có thai và người già.

- Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, là những người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, chưa tự thực hiện được các quyền của mình và không có hoặc hạn chế khả năng tự vệ.

Trẻ em có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội. Người Việt Nam vốn có truyền thống yêu thương gắn bó với con cháu, con cháu không chỉ là nguồn hạnh phúc mà còn là niềm mong ước, là nơi gửi gắm những ước mơ, niềm tin và sự hãnh diện của bố mẹ, ông bà và xã hội bởi trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của cha ông. Vì vậy, ngay từ thời xa xưa, các Nhà nước phong kiến đã đề ra những quy định bằng pháp luật để bảo vệ trẻ em; nhân dân ta cũng tự hình thành các quan hệ đạo đức nhằm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, dưới chế độ dân chủ nhân dân, truyền thống đó càng được nhân dân ta giữ gìn và phát huy, trở thành vấn đề có tính chiến lược, là mục tiêu quan trọng, nhất quán trong đường lối cách mạng Việt Nam.

- Phụ nữ là đối tượng vốn được xem là “chân yếu, tay mềm”, là “phái yếu”. Đặc biệt, đối với phụ nữ đang trong thời kỳ mang thai lại càng có những hạn chế hơn về thể chất so với những người phụ nữ bình thường khác. Phụ nữ đang mang thai là giai đoạn trong cơ thể họ đang hình thành và phát triển sự sống mới (bào thai). Thời kỳ này, cơ thể người phụ nữ trải qua nhiều thay đổi về tâm sinh lý, rất dễ bị tổn thương về sức khoẻ cho cả mẹ và thai nhi. Phụ nữ đang mang thai cũng là người không có khả năng hoặc hạn chế khả năng tự vệ. Trong thời kỳ mang thai, nếu có tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với người phụ nữ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, gây nguy hiểm đối với thai nhi và sức khỏe của người mẹ. Bảo vệ phụ nữ đang mang thai không chỉ là bảo vệ chính họ mà còn bảo vệ thế hệ tương lai.

- Người già là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định (tuổi cao) trong một giai đoạn (giai đoạn sau) của cuộc đời, là khi con người bắt đầu có những biến đổi cơ thể theo chiều hướng đi xuống, từ tốt sang xấu, cũng như có thay đổi về tính tình, cách ứng xử, và là người  không có hoặc hạn chế khả năng tự vệ. Người già là lớp người có công sinh thành, nuôi dưỡng và giáo dục các thế hệ con cháu, giữ gìn và phát triển giống nòi, bảo vệ và phát triển thuần phong, mỹ tục và truyền thống yêu nước của dân tộc. Phát huy truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta "kính lão đắc thọ", Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân.

Xuất phát từ các đặc điểm đó, Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách quan tâm chăm sóc, ưu tiên, bảo vệ đối với trẻ em, phụ nữ có thai và người già. Các quy định của pháp luật về bảo vệ các đối tượng này ngày càng được hoàn thiện, trong đó có pháp luật về hình sự.

Theo quy định của BLHS hiện hành, nếu người thực hiện hành vi phạm tội là phụ nữ có thai, người già thì họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm l, m khoản 1 Điều 46; trẻ em thực hiện hành vi phạm tội thì trong quá trình xử lý phải áp dụng các quy định riêng đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Chương X theo phương châm: việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Ngược lại nếu hành vi phạm tội được thực hiện đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì tính nguy hiểm của hành vi phạm tội cao hơn phạm tội đối với những đối tượng khác với tính chất là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không chỉ xuất phát từ quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệ tương lai của đất nước, bảo vệ lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bảo vệ phụ nữ đang mang thai là bảo vệ chính họ và bảo vệ thế hệ tương lai; bảo vệ người già là bảo vệ thuần phong, mỹ tục, truyền thống đạo lý của dân tộc, mà còn xuất phát từ một thực tế là trẻ em, phụ nữ có thai, người già là người không có khả năng hoặc hạn chế khả năng tự vệ, và đây là lý do chính mà nhà làm luật quy định “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS. Tình tiết "phạm tội đối với trẻ em" không chỉ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quyết định hình phạt tại điểm h khoản 1 điều 48 BLHS  mà trong nhiều trường hợp nó là yếu tố định tội và “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” là tình tiết định khung hình phạt đối với nhiều tội phạm.

2. Thế nào là “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” được áp dụng trong những trường hợp phạm tội?

Tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS được diễn đạt như sau:

“1. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) …;

…;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già,…”.

Với cách diễn đạt trên đây thì “Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” được hiểu là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội thông qua việc tác động đến thân thể trẻ em, phụ nữ có thai, người già đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự tự do của họ.

Tại mục 2 của Nghị số 01/2006/NQ-HĐTPngày 12 tháng 05 năm 2006  của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS đã hướng dẫn áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 của BLHS như sau:

“2.1. Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được người bị xâm hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già.

2.2. "Trẻ em" được xác định là người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

2.3. "Phụ nữ có thai" được xác định bằng các chứng cứ chứng minh là người phụ nữ đó đang mang thai, như: bị cáo và mọi người đều nhìn thấy được hoặc bị cáo nghe được, biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đó đang mang thai. Trong trường hợp thực tế khó nhận biết được người phụ nữ đó đang có thai hay không hoặc giữa lời khai của bị cáo và người bị hại về việc này có mâu thuẫn với nhau thì để xác định người phụ nữ đó có thai hay không phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết luận giám định.

2.4. "Người già" được xác định là người từ 70 tuổi trở lên”.                        

Như vậy, Nghị quyết đã hướng dẫn cụ thể về tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già": Đây là tình tiết thuộc về mặt khách quan, nó tồn tại ngoài ý muốn của con người, do đó không cần người phạm tội phải nhận thức được hoặc buộc họ phải nhận thức được đối tượng mà mình xâm phạm là trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì mới coi là tình tiết tăng nặng, mà chỉ cần xác định người mà người phạm tội xâm phạm là trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì người phạm tội đã bị coi là phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già; khái niệm trẻ em, người già được xác định qua độ tuổi cụ thể cũng như phương pháp chứng minh phụ nữ có thai.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải lúc nào tình tiết này cũng được hiểu và áp dụng thống nhất. Câu hỏi có nhiều kết quả trả lời khác nhau ở đây là: Tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già"có thể áp dụng đối với tất cả các trường hợp phạm tội do lỗi cố ý mà người bị hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già hay không?Xung quanh vấn đề này hiện có 02 quan điểm khác nhau:

- Theo quan điểm thứ nhất, thì tất cả các trường hợp phạm tội do lỗi cố ý mà người bị hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" tương ứng (trừ trường hợp tình tiết này là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt). Vì vậy, ngoài các trường hợp phạm vào các tội phạm xâm phạm quyền nhân thân, thì các trường hợp phạm vào các tội chỉ xâm phạm quyền sở hữu, như các tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chiếm đoạt tài sản mà người bị hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì cũng có thể áp dụng tình tiết tăng nặng tương ứng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS. Quan điểm này dựa vào hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTPngày 12 tháng 05 năm 2006  của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Với hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, quan điểm thứ nhất cho rằngtình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" chỉ loại trừ áp dụng đối với trường hợp phạm tội do lỗi vô ý; nghị quyết không có nội dung hướng dẫn khách thể loại nào thì thuộc đối tượng áp dụng, khách thể loại nào thì không thuộc đối tượng áp dụng của tình tiết tăng nặng này. Vì vậy, trong tất cả các trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, kể cả phạm các tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chiếm đoạt tài sản mà người bị hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì cũng có thể áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" tương ứng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS. Với cách hiểu như vậy, nên tại địa phương, có nhiều vụ án về các tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng chiếm đoạt tài sản, người phạm tội chiếm đoạt tài sản của trẻ em, phụ nữ có thai, người già, một số Tòa án và Viện kiểm sát cấp huyện đã áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" tương ứng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.

  - Khác với quan điểm thứ nhất, quan điểm thứ hai cho rằng: Không phải tất cả các trường hợp phạm tội do lỗi cố ý và người bị hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS, mà phải tùy từng trường phạm phạm tội cụ thể để xem xét có áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với người phạm tội hay không, trong đó khách thể bị xâm hại là căn cứ quan trọng về mặt nội dung phải được xem xét. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, vì những cơ sở sau đây:

  Trước hết, để xem xét một người đã thực hiện hành vi phạm tội có thể bị áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS hay không, thì ngoài việc phải xác định người thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý, người bị hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già, còn phải xem xét đén khách thể bị tội phạm xâm hại.

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Nhà nước thiết lập và bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật hình sự, bị hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đối với quan hệ xã hội đó. Khi một tội phạm được thực hiện, thì nó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, tức là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm. Với tư cách là một loại quan hệ xã hội, khách thể của tội phạm được hợp thành bởi 03 bộ phận: (1) chủ thể của quan hệ xã hội (con người);  (2) hoạt động bình thường của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội; (3) các vật, hiện tượng của thế giới khách quan có liên quan đến hoạt động của chủ thể quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội (khách thể) không thể tồn tại bên ngoài các bộ phận hợp thành của nó, do vậy khách thể chỉ có thể bị xâm hại nếu có sự tác động nào đó đến các bộ phận hợp thành khách thể. Các bộ phận hợp thành khách thể được Luật hình sự bảo vệ bị tội phạm trực tiếp tác động vào gọi là đối tượng tác động của tội phạm.

Bắt kỳ một tội phạm cụ thể nào cũng tác động đến đối tượng nhất định (đối tượng tác động của tội phạm) và thông qua đó đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội (khách thể). Hay nói cách khác, qua hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ (khách thể) chỉ có thể bị gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại khi hành vi phạm tội tác động đến đối tượng tác động nhất định của tội phạm.

Tình tiết tăng nặng “phạn tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” quy định tại khoản 1 Điều 48 BLHS xuất phát từ cơ sở trẻ em, phụ nữ có thai, người già là đối tượng cần được quan tâm bảo vệ đặc biệt như đã phân tích tại mục 1 trên đây và đối tượng tác động của tội phạm là con người  (con người ở đây chính là trẻ em, phụ nữ có thai, người già). Thông qua việc tác động đến con người, người thực hiện hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho khách thể là tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tự do của trẻ em, phụ nữ có thai, người già.

  Mặt khác, nội dung hướng dẫn tại mục 2.1 Nghị quyết số 02/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già" đối với những trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của bị cáo có nhận biết được hay không nhận biết được người bị xâm hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già) phải được hiểu là cơ quan hướng dẫn chỉ ra rằng tình tiết tăng nặng này là tình tiết khách quan và chỉ áp dụng đối với trường hợp phạm tội do lỗi cố ý, loại trừ áp dụng đối với trường hợp phạm tội do lỗi vô ý. Mặc dù Nghị quyết không hướng dẫn về đối tượng tác động của tội phạm là điều kiện áp dụng tình tiết tăng nặng “phạn tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già”, nhưng điều đó không có nghĩa là không xem xét đến đối tượng tác động của tội phạm trong trường hợp phạm tội cụ thể khi quyết định áp dụng tình tiết tăng nặng này. Về vấn đề này, chúng ta cần khảo cứu đến Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 của Tòa án nhân dân tối cao Giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng. Tại điểm 26 mục I  Công căn này đã giải thích về tình tiết tăng nặng “phạn tội đối với trẻ em” như sau:

“Bộ luật hình sự có khái niệm "trẻ em" nhưng không quy định cụ thể trẻ em là người có độ tuổi bao nhiêu. Việc coi người có độ tuổi bao nhiêu là trẻ em phải căn cứ vào Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12-8-1991. Theo quy định tại Điều 1 Luật này, thì "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt nam dưới mười sáu tuổi".

Không phải trong mọi trường hợp mà người bị hại do tội phạm gây ra là trẻ em đều phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em" quy định tại điểm e khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự (nay là điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS hiện hành). Chỉ coi là phạm tội đối với trẻ em và phải áp dụng điểm e khoản 1 Điều 39 Bộ luật hình sự (nay là điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS hiện hành) đối với người phạm tội trong trường hợp người phạm tội cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của trẻ em”.

Như vậy, theo giải thích trên đây của Tòa án nhân dân tói cao, thì khách thể bị tội phạm xâm phạm đến trong trường hợp phạm tội cụ thể là một trong những điều kiện để có thể áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già". Không phải trong mọi trường hợp phạm tội do cố ý mà người bị hại là trẻ em, phụ nữ có thai, người già đều phải áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” tương ứng.  Chỉ có thể áp dụng tình tiết tăng nặng này đối với các trường hợp phạm tội do cố ý và hành vi phạm tội tác động đến đối tượng tác động là con người, thông qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể loại là quyền nhân thân và khách thể trực tiếp là tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tự do của người bị hại. Điều đó hoàn toàn phù hợp với cơ sở của việc quy định tình tiết tăng nặng “phạn tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” quy định tại khoản 1 Điều 48 BLHS và mục đích điều chỉnh của nó. Đối với những tội phạm xâm phạm nhiều khách thể thì cũng có thể xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng "phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” tương ứng khi trường hợp phạm tội cụ thể đó có gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho khách thể  là tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tự do của trẻ em, phụ nữ có thai, người già (như các tội cướp tài sản, cướp giật tài sản…).

  Vì vậy, đối với các vụ án về các tội xâm phạm sở hữu mà người thực hiện hành vi phạm tội chỉ tác động đến tài sản để gây thiệt hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể là quyền sở hữu (như các tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản), mặc dù người bị hại trong vụ án là trẻ em, phụ nữ có thai, người già thì cũng không áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS; nếu Kiểm sát viên đề nghị và bản án của Tòa án áp dụng tình tiết tăng nặng này để quyết định hình phạt đối với người phạm tội là sai lầm trong việc áp dụng pháp luật.

  Tóm lại: Tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 BLHS đã được Tòa án nhân dân tối cao giải thích và hướng dẫn áp dụng. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn vẫn còn có những cách hiểu khác nhau. Qua bài viết này, tác giả khẳng định rằng, tình tiết tăng nặng này chỉ có thể áp dụng đối với các trường hợp phạm tội xâm phạm khách thể loại là quyền nhân thân, khi hội đủ 02 điều kiện: (1) Người thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý; (2) đối tượng tác động của tội phạm là con người (trẻ em, phụ nữ có thai, người già), thông qua đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể là tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tự do của trẻ em, phụ nữ có thai, người già. Trường hợp hành vi phạm vào một tội phạm cụ thể xâm phạm đến nhiều khách thể, thì một trong những khách thể bị hành vi phạm tội xâm hại hại đến phải là tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của trẻ em, phụ nữ có thai, người già. Người tiến hành tố tụng, nhất là Kiểm sát viên, Thẩm phán cần nhận thức đúng để áp dụng  chính xác tình tiết tăng nặng  “phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già” trong việc xử lý các vụ án hình sự cụ thể.

Tác giả bài viết: Phạm Vũ Ngọc Quang - Phòng 1

Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn