18:53 ICT Thứ tư, 19/06/2019
“Lập thành tích chào mừng kỷ niệm 30 năm ngày lập lại tỉnh Quảng Trị và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị”

Trang chủ » Tổ chức » Kiểm sát viên » Trao đổi nghiệp vụ

Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kinh nghiệm trong việc giải quyết án ma túy

Thứ năm - 10/03/2016 15:23

Vừa qua, Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy VKSND tối cao ban hành thông báo rút kinh nghiệm trong việc giải quyết vụ án ma túy, Trang tin điện tử VKSND tối cao trích đăng để bạn đọc tham khảo:

Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án ma túy, VKSND tối cao nhận được Cáo trạng ngày 23/12/2015, Báo cáo kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm ngày 27/01/2016, Bản án hình sự sơ thẩm ngày 25/01/2016, Kháng nghị phúc thẩm ngày 03/01/2016 của VKS và TAND tỉnh N truy tố, xét xử đối với Hoàng Nghĩa T và Nguyễn Phi H về tội Mua bán trái phép chất ma túy, Hà Thị Thu T về tội Không tố giác tội phạm do VKSND tỉnh N gửi đến, sau khi kiểm tra thấy:

- Cáo trạng truy tố các bị can Hoàng Nghĩa T và Nguyễn Phí H mua bán trái phép 854,27 gam ma túy tổng hợp Menthamphetamine theo quy định tại Điểm e Khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự; truy tố Hà Thị Thu T về tội Không tố giác tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

- Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với vụ án, VKS đề nghị: Áp dụng Điểm e, Khoản 4, Điều 194; Điểm p, Khoản 1, Điều 46; Điểm g, Khoản 1, Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Nghĩa T 20 năm tù và xử phạt Nguyễn Phi H 18-19 năm tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng Khoản 1, Điều 314; Điểm p, h Khoản 1, 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt Hà Thị Thu T từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, về tội Không tố giác tội phạm.

Tòa án quyết định: Tuyên phạt bị cáo Hoàng Nghĩa T, Nguyễn Phi H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Hà Thị Thu T phạm tội Không tố giác tội phạm. Áp dụng Điểm e, Khoản 4, Điều 194; Điểm p, Khoản 1, Điều 46; Điểm g, Khoản 1, Điều 48 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Nghĩa T tù chung thân; Áp dụng Khoản 1, Điều 314; Điểm p, h Khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Hà Thị Thu T 09 tháng tù. Như vậy, Tòa án đã quyết định hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Tòa án đã không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật hình sự (chương các tội phạm về ma túy); Thông tư liên tịch số 17 là xét xử các bị cáo theo trọng lượng ma túy đã quy đổi theo hàm lượng (854,27 gam x 72,8% = 621.908 gam).

Với kết quả xét xử nêu trên, ngày 03/01/2016 VKSND tỉnh quyết định kháng nghị phần hình phạt đối với bị cáo Hoàng Nghĩa T, Hà Thị Thu T của bản án hình sự sơ thẩm của TAND tỉnh theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hoàng Nghĩa T từ tù chung thân xuống 20 năm tù; cải biện pháp tù giam sang phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Hà Thị Thu T với những lý do:

- Hành vi của Hoàng Nghĩa T mua bán trái phép 854,27 gam  Menthamphetamine quy đổi theo hàm lượng (854,27 gam x 72,8% = 621.908 gam). Bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm p, Khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự và 1 tình tiết tăng nặng là tái phạm nguy hiểm quy định tại Điểm g, Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; trọng lượng ma túy tổng hợp nằm trong mức quy định tại Điểm a, Mục 3.1 NQ số 01 ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Tòa án xử phạt T mức án chung thân là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và trái với hướng dẫn tại NQ số 01 nêu trên.

Đối vớii Hà Thị Thu T: Có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự (khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng); Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự (bố đẻ được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến; nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng) Tòa án không cho hưởng án treo là chưa thỏa đáng.

Kết quả nghiên cứu Vụ 4 nhận thấy: VKSND tỉnh ra quyết định kháng nghị đối với bản ản này là có căn cứ theo quy định tại Điểm a, mục 3.1 Nghị quyết số 01 ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao. Tuy nhiên, khi ban hành kháng nghị lại tính trọng lượng ma túy theo kết quả giám định hàm lượng chất ma túy là không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật hình sự; Thông tư liên tịch số 17 và Thông tư liên tịch số 08, Thông báo số 408 ngày 30/6/2015 của Viện trưởng VKSND tối cao và các văn bản hướng dẫn. Với trọng lượng 854,27 gam  Menthamphetamine là thuộc trường hợp quy định tại điểm a mục 3.1 Nghị quyết số 01 nêu trên.​

Nguồn tin: VKSNDTC

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn